Gốm sứ mỹ nghệ việt nam trên thi trường thế giới

Dù muốn hay không, các làng nghề gốm cũng đang ở trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thị trường của sản phẩm gốm sứ hiện nay là thị trường rộng lớn của 150 nước thành viên của WTO và khách hàng tiềm năng có thể thuộc hàng trăm dân tộc và nền văn hóa khác nhau.

Phố đàn Nguyễn Thiện Thuật- Làng đờn quận 4.

Ở Tp.HCM có một con đường được nhiều người gọi là phố đàn, đó là con đường Nguyễn Thiện Thuật nằm trên địa bàn quận 3. Những cửa hàng này có cái thâm niên đã mấy chục năm, nhưng có cái cũng chỉ mới mở vài ba năm với những cái tên như: Dung đàn, Guitar gỗ, Ngọc Hồ, Bình Guitar...

Doanh nhân Nguyễn Thị Đẹp - Người thổi "Hồn" cho hoa

Bước vào không gian trưng bày các sản phẩm thủ công của doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh, bất cứ ai cũng sẽ có cảm giác như lạc vào thế giới sắc màu với những sản phẩm nghệ thuật độc đáo từ hoa khô.Những vật liệu tự nhiên dưới bàn tay khéo léo của người thợ lành nghề, đã hình thành nên các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc như: bông hoa, giỏ hoa, quả cầu thủ công

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hữu Hạnh: Những bức tranh thêu gây hai niềm rung cảm

Ai là con gái Đà Lạt ít nhiều cũng biết đan móc, thêu thùa, vá may; chị Nguyễn Thị Hữu Hạnh cũng vậy, từ nhỏ đã quen thuộc với đường kim mũi chỉ trên những chiếc khăn. Được mẹ khen khéo tay, thêu đẹp, chị thêm thích thú với công việc.

Làng nghề gốm người Khmer Nam bộ

Điểm đặc sắc trong làng nghề gốm Tri Tôn là không dùng bàn xoay hoặc ứng dụng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào. Đơn thuần chỉ bằng tay với kinh nghiệm mang tính bẩm sinh.

10 July 2016

Chợ nổi Cái Răng tái hiện làng nghề thủ công


TTO - Nhiều loại hình tiểu thủ công nghiệp như đan nan tre, đan mây, đan lác, đan lục bình, dệt chiếu... truyền thống của ĐBSCL đã được tái hiện sinh động tại “Ngày hội du lịch chợ nổi Cái Răng”.

Nghề đan nan tre đòi hỏi sự tỉ mẩn và kiên trì - Ảnh: C.HÀO

Là người gắn bó nhiều năm với nghề đan nan tre, ông Tô Hiến, một nghệ nhân tiểu thủ công nghiệp (xóm Thốn Liên Hạ, P.Lê Bình, Q.Cái Răng), cho biết xóm Thốn Liên Hạ từng là một làng nghề phát triển về nghề đan nan tre nhưng hiện chỉ còn một vài hộ gia đình duy trì với một vài sản phẩm như thúng, sề, nia, sàng, gàu tát nước, vỉ, lồng đèn...

Đa số nghệ nhân là những người lớn tuổi, sản xuất ở quy mô gia đình là chủ yếu. “Vợ chồng chúng tôi tin rằng đến một độ tuổi nào đó, con cháu chúng tôi sẽ nhận ra giá trị của nghề và đủ đam mê để thay chúng tôi duy trì những tinh hoa nghệ thuật dân gian” - ông Hiến nói.

Theo ông Bùi Hữu Sang - trưởng Phòng văn hóa Q.Cái Răng, “địa phương luôn khuyến khích người dân duy trì các làng nghề, bởi nó mới đem lại sức sống cho phát triển du lịch, nhưng các làng nghề đang chết dần.

Thông qua ngày hội này, chúng tôi mong muốn tái hiện các làng nghề về mặt văn hóa đúng như truyền thống của nó, đồng thời hi vọng sẽ khơi dậy tình yêu và những giá trị đang mai một của các loại hình tiểu thủ công nghiệp” - ông Sang nói.

Ngày 9-7, UBND Q.Cái Răng (TP Cần Thơ) cùng Sở Văn hóa, thể thao và du lịch TP Cần Thơ tổ chức khai mạc Ngày hội du lịch chợ nổi Cái Răng nhân ngày Du lịch VN (9-7) và văn hóa chợ nổi Cái Răng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Lê Văn Tâm - phó chủ tịch UBND TP Cần Thơ - đề nghị UBND Q.Cái Răng sớm triển khai đề án bảo tồn và phát triển chợ nổi Cái Răng (với vốn đầu tư khoảng 63 tỉ đồng), tạo điểm nhấn, thu hút khách du lịch đến thành phố.

Hướng bảo tồn và phát triển là hạn chế phá vỡ hiện trạng, đảm bảo an toàn giao thông thủy - bộ và vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm. 

THANH ĐỨC - CHÍ HÀO
tuoitre.vn

24 April 2016

Kể chuyện làng nghề bằng du lịch - Tại sao không?


HNM) - Trong khi người làng nghề đau đáu nỗi niềm đụng đâu khó đó, muốn "cựa mình, bung tỏa" mà thiếu điểm tựa thì không ít đơn vị lữ hành du lịch, vì nhiều nguyên nhân, đã thừa nhận đầy tiếc nuối rằng "tour du lịch làng nghề không còn nằm trong chiến lược ưu tiên kêu gọi du khách". 


Đại diện hầu hết các công ty du lịch đều khẳng định tiềm năng của làng nghề truyền thống rất lớn nhưng chưa được đánh thức. Vấn đề đặt ra là phải làm gì, từ đâu để làng nghề trỗi dậy?

Đầu tư… từ đâu?

Anh Đỗ Mạnh Khang, Công ty cổ phần Thương mại - Du lịch quốc tế Bốn Phương, cho biết: Vài năm trở lại đây, tour du lịch làng nghề đã giảm nhiệt do nhu cầu tìm hiểu, du lịch ở làng nghề chưa được đáp ứng, nhạt nhòa. Ngay cả việc trực tiếp quan sát công đoạn sản xuất, dù mang nặng tính trình diễn như điểm du lịch làng nghề Vạn Phúc, nhưng nếu không đặt lịch trước, khách du lịch cũng sẽ không được đáp ứng. Tour làng nghề Bát Tràng còn gặp nhiều khó khăn hơn. 

Đơn cử như, trên tuyến tour hút khách bậc nhất của du lịch Hà Nội là "Hà Nội - Quảng Ninh" đã có các điểm tham quan làng nghề gốm Chu Đậu (Hải Dương); gốm Đông Triều (Quảng Ninh), do vậy đưa làng gốm Bát Tràng vào hành trình sẽ không phù hợp, đặc biệt là về cung đường, thời gian. Chưa kể, nếu tới Bát Tràng "chẳng may" gặp đoàn học sinh tham quan, với hàng trăm em nhỏ, du khách sẽ bị hạn chế cơ hội tiếp xúc, cảm nhận về nghề, làng nghề.

Thực tế này đã khiến các tuyến du lịch làng nghề, cụ thể là hai điểm Bát Tràng, Vạn Phúc, thời gian gần đây, dần thưa vắng. Bản thân anh Khang, đã gần 2 năm nay, không còn nhận được yêu cầu đưa khách về các điểm làng nghề kể trên. Anh Khang cho biết, nhiều anh em đồng nghiệp cũng chung tình trạng đó và chỉ có khoảng 10-20% hướng dẫn viên có hợp đồng đưa khách tham quan làng nghề với thời gian vô cùng hạn chế. Không ít tour, vì số lượng khách đăng ký quá ít, các đơn vị lữ hành phải kết nối với nhau để ghép khách hoặc thậm chí, để chiều lòng khách, có hướng dẫn viên còn lấy xe gắn máy tranh thủ đưa 1, 2 người tới các điểm tham quan này.

Dành thời gian tham quan làng nghề Bát Tràng, Vạn Phúc, dễ thấy tình trạng đô thị hóa đã phá vỡ không gian làng nghề. Ùn tắc giao thông vào giờ tan học, lúc chuyển hàng, nhập nguyên liệu, khi công ty lữ hành "đổ" khách… diễn ra thường xuyên. Chính bản thân làng nghề cũng tự hại mình bằng cách trà trộn hàng hóa kém chất lượng, không rõ nguồn gốc để bán hay bán cho khách nội địa và khách nước ngoài cùng sản phẩm với mức giá khác nhau… Tất cả, dường như là hệ lụy của việc phát triển du lịch làng nghề tự phát, manh mún, thiếu định hướng tập trung, quy trình bài bản.

Anh Lê Ngọc Hiền (Công ty Du lịch Tâm Long Travel) cho biết: "Chứng kiến các nước trong khu vực làm du lịch mới thấy chúng ta để lãng phí nhiều "tài nguyên", trong đó đáng kể nhất là du lịch làng nghề. Singapore, Malaysia, Thái Lan… có nhiều điểm du lịch nổi tiếng dù không có chiều sâu. So với những điểm du lịch của họ, làng nghề của Việt Nam nói chung đều rất tuyệt vời và với Bát Tràng, Vạn Phúc có thể coi là ngọc quý. Nếu được quan tâm, đầu tư sẽ có thể phát triển cực tốt vì không phải nơi nào cũng có được tiềm năng dồi dào về lịch sử, văn hóa như vậy". 

Nghệ nhân gốm Bát Tràng, Đặng Đình Hải, chia sẻ một câu chuyện có thật để minh chứng cho nhận xét trên: "Tôi đi Thái Lan, vào khu du lịch Noo Núc mà choáng ngợp. Một khu sản xuất gốm, so với Bát Tràng còn quá non trẻ, nhưng được đầu tư, quy hoạch tốt tới mức trở thành điểm du lịch không thể bỏ qua ở đất nước này. Du khách đổ xô tới vui chơi, tiêu tiền, khi về đều hài lòng. Bản thân tôi, tới đây, đi một vòng cũng tiêu cả chục triệu đồng rồi… thấy tiếc, không phải tiếc tiền mà tiếc quê mình không làm được như thế".

Vài năm trở lại đây, tour du lịch làng nghề đã giảm nhiệt do nhu cầu tìm hiểu du lịch ở làng nghề chưa được đáp ứng.

Đánh thức tiềm năng

Câu hỏi "vì sao không làm được như thế" không phải là sự tự vấn của riêng người làng nghề trong thời điểm này. Chủ trương "Đầu tư bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại hai điểm làng nghề gốm sứ Bát Tràng và làng dệt lụa Vạn Phúc" của TP Hà Nội được kỳ vọng sẽ mở ra cánh cửa cho du lịch làng nghề phát triển dài hơi, bài bản. 

Ngay lúc này, các ban, ngành được giao nhiệm vụ thực hiện dự án đang tập trung khảo sát đồng bộ tại hai điểm làng nghề, nhằm đưa ra "đề bài" chính xác nhất cho các đơn vị tư vấn tham gia nghiên cứu,… hướng tới mục tiêu xây dựng điểm đến du lịch đạt tiêu chuẩn quốc tế trên cơ sở phù hợp với quy hoạch bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, kiến trúc, nghề truyền thống bảo đảm thân thiện với môi trường và hài hòa với cảnh quan khu vực. Các đơn vị tư vấn thiết kế trong và ngoài nước cũng rất hào hứng, quan tâm tới dự án mang nhiều ý nghĩa văn hóa - xã hội này. 

Tại các làng nghề, chính quyền địa phương cũng đã và đang rốt ráo thực hiện các kế hoạch đón đầu dự án. Nhiều gợi ý đáng kể như: Xây dựng lộ trình tham quan chuẩn với các điểm nối được thiết kế xuyên suốt quá trình lịch sử hình thành, gìn giữ, phát triển nghề thông qua hình thức kể chuyện bằng âm thanh, hình ảnh, hiện vật cổ…; tổ chức tuyên truyền vận động người dân hiểu giá trị nghề truyền thống cũng như có ý thức bảo vệ thương hiệu bằng việc lưu dấu thương hiệu trên sản phẩm, kiên quyết đưa hàng ngoại lai ra khỏi không gian làng nghề; tìm nguyên liệu phù hợp hỗ trợ sản xuất trong khi tiến hành đầu tư sớm vùng nguyên liệu… đang từng bước được thực hiện. Đâu đó những điểm nhấn đắt giá như không gian trưng bày sản phẩm thuần Việt với sân gạch, nhà gỗ, lối đi quanh co ngát hương cau, hương bưởi; những xưởng gốm để khách một lần làm thợ… đã được quan tâm, chăm chút hơn...

Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, du lịch làng nghề luôn được nhắc đến như một lĩnh vực ưu tiên hàng đầu. Ngành du lịch Thủ đô cũng rất quan tâm đến giá trị, tiềm năng của làng nghề trong phát triển du lịch. Vấn đề là, du lịch làng nghề cần dựa vào chính con người làng nghề; người làng nghề cần hiểu sâu sắc rằng nghề truyền thống không phải là mạch nguồn vô tận nếu không biết cách giữ gìn và thúc đẩy phát triển phù hợp. Nói cách khác, khi những thế mạnh ấy vẫn chưa được chính người làng nghề đánh thức, khơi dậy, cộng với sự đầu tư về nhân lực, định hướng phát triển, những hoạt động xúc tiến du lịch thì sự kết nối giữa du lịch với làng nghề sẽ tiếp tục hời hợt, lỏng lẻo và tiềm năng cũng sẽ mãi chỉ là tiềm năng.

Thanh Thủy
hanoimoi.com.vn

Câu chuyện Bác Hồ trích tiền tiết kiệm tặng làng nghề mây tre đan


Dân trí “Bác đã nhận được quà của các chú. Bác trích một phần tiền tiết kiệm Bác dành dụm được tặng các chú 50 đồng làm vốn để các chú khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống mây tre đan ở địa phương”.

Đó là một đoạn trong bức thư Bác gửi những nghệ nhân làng Ngọc Động sau khi Bác nhận được món quà là bộ ghế mây mà các nghệ nhân của làng nghề tặng Bác.

Ý tưởng đan ghế tặng Bác Hồ

Trong không khí những ngày kỷ niệm 121 năm ngày sinh nhật Bác Hồ (19/5/1890 - 19/5/2011), chúng tôi về thôn Ngọc Động, xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên (Hà Nam) thăm làng nghề mây tre đan nổi tiếng. Đi qua cổng làng Ngọc Động vài trăm mét, chúng tôi có mặt tại căn nhà nhỏ của nghệ nhân Nguyễn Văn Minh. Ông là một trong 7 người tham gia đan bộ ghế mây tặng Bác. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là những chiếc máy nổ cùng những nguyên liệu mây giang và rất nhiều những sản phẩm làm từ mây giang.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Minh

Tiếp chúng tôi là một người đàn ông dong dỏng cao, mái tóc hoa râm, một tuổi già còn nhiều minh mẫn và khéo léo. Bên bộ bàn ghế mây do chính tay ông làm ra và ấm trà nóng, nghệ nhân Minh nhẹ nhàng kể lại câu chuyện về ý tưởng đan bộ ghế mây tặng Bác Hồ của nhóm nghệ nhân mây giang làng Ngọc Động, trong đó có ông.

Chỉ tay vào chiếc ghế mây giống hệt ghế tặng Bác Hồ, nghệ nhân Minh kể: “Việc đan ghế tặng Bác đối với tôi là một kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời gắn với nghề đan mây truyền thống. Đó không chỉ là niềm vui, sự xúc động của riêng bản thân mà còn là niềm tự hào của những người con làng Ngọc Động”.

Nghệ nhân Minh bên sản phẩm ghế mây độc đáo - bản sao của chiếc ghế mây mà nhóm nghệ nhân làng Ngọc Động đã dành tặng Bác Hồ

Trước đây, làng Ngọc Động còn là một vùng đồng quê chiêm trũng nghèo, ít đồng ruộng. Nhiều thanh niên khỏe mạnh bỏ làng đi tha hương kiếm sống, chỉ còn lại những lớp người trung tuổi ở làng. Thời đó, làng có nghề đan mây tre có truyền thống lâu năm nhưng không mấy phát triển, ông tổ của làng làng nghề là ông Binh Cổng hay còn gọi là Binh Tiền.

Năm 1957, khi ông Minh 15 tuổi, ông đã cùng một số anh em trong làng ở lại học nghề đan mây tre truyền thống. Vốn là người chịu khó, ham học lại có sẵn tính thông minh nên ông Minh tiếp thu nghề mây tre đan rất nhanh và thành thạo, có sự sáng tạo hơn hẳn nhiều người trong làng. Tên tuổi của ông cũng nhanh chóng được người địa phương biết đến.

Khi biết tin Bác chuẩn bị về ở nhà sàn, các cụ cao niên trong làng Ngọc Động đề xuất ý tưởng làm một kỷ vật gì đó để tặng Bác. Ý tưởng về việc làm bộ ghế mây tre đan tặng Bác ra đời từ đó. Sau đó, làng nghề đã mở cuộc tuyển chọn những nghệ nhân có tay nghề giỏi nhất để tham gia đan ghế mây tặng Bác. Sau đó, làng đã chọn được 7 nghệ nhân tham gia công việc cao quý này.

 Đình làng Ngọc Động, nơi nhóm nghệ nhân làng nghề miệt mài làm ghế mây tặng Bác Hồ

“Để có những chiếc ghế mây đẹp, mềm và êm thì đòi hỏi sự cố gắng, tâm huyết của tất cả các thành viên trong nhóm nghệ nhân thực hiện. Ai cũng cố gắng, mong mỏi sẽ thực hiện thành công để tặng Bác. Nó sẽ giúp Bác thuận tiện trong khi làm việc, đọc sách và tiếp khách”, nghệ nhân Nguyễn Văn Minh nhớ lại.

Những kỷ niệm khó quên với Bác

Gần nửa thế kỷ đã đi qua, kể từ lần cuối gặp Bác Hồ, ông Nguyễn Văn Minh vẫn nhớ như in những kỷ niệm về Bác. Đó là sự giản dị, gần gũi với nhân dân của vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.

Năm 1965, khi nghe tin Bác Hồ mời đoàn Anh hùng miền Nam lần đầu tiên ra thăm miền Bắc, trong lòng ông cảm thấy vô cùng sung sướng và mong được gặp Bác. Đó là lần nhóm nghệ nhân làng nghề của ông dâng tặng Bác bộ ghế mây tre của làng nghề truyền thống.

Tuổi già, nhưng những công việc vất vả như uốn nguyên liệu mây tre hay đan mây ông Minh vẫn có thể tự tay làm

Ông Minh bồi hồi nhớ lại: “Vì đó là ghế làm tặng Bác nên mỗi người chúng tôi đều ý thức được trách nhiệm và vinh dự lớn lao của mình. Mọi công đoạn đều được làm cẩn thận và chắc chắn đảm bảo độ bền cao. Mọi công đoạn đòi hỏi sự tỷ mỉ và công phu nên việc chọn nguyên liệu cũng hết sức tỉ mỉ, những cây song mây được chọn có tuổi đời từ 10 - 15 năm, thân màu vàng óng, gỗ phải là loại gỗ tốt nhất, chống mọt. Các sợi mây được tước thủ công sau đó kéo qua kéo lại cho thật bóng. Đặc biệt khâu chọn sơn rất được chú trọng và phải là sơn ta để chống bay hơi”.

Sự cố gắng ấy đã được đền đáp, món quà lớn lao do tự tay nhóm nghệ nhân làng Ngọc Động làm được dâng tặng Bác Hồ. Niềm vui sướng trào dâng, lan tỏa trong mỗi người nghệ nhân lúc đó. Ông minh cũng vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng huy hiệu Hồ chí Minh, đó là món quà ý nghĩa cao quý nhất là ông luôn trân trọng.

Cũng trong dịp đó, tổ hợp làng nghề Ngọc Động nhận được một món quà 50 đồng và một lá thư của Bác Hồ viết gửi lại cho nhóm nghệ nhân làng Ngọc Động, trong lá thư có đoạn: “Bác đã nhận được quà của các chú. Bác trích tiền tiết kiệm của Bác dành dụm được tặng các chú 50 đồng làm vốn để các chú khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống mây tre đan ở địa phương”.

Từ tấm lòng và sự động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làng nghề mây tre truyền thống Ngọc Động như được truyền lửa. Làng nghề không những được khôi phục mà ngày càng có thương hiệu, nổi tiếng khắp các tỉnh lân cận như: Thái Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc…

Nghệ nhân Nguyễn Văn Minh cũng như bao thế hệ nghệ nhân khác trong làng nghề, luôn cố gắng sáng tạo để làng nghề phát triển hơn nữa. Những kỷ niệm và tấm lòng của Bác Hồ vẫn luôn sáng mãi trong ông, thôi thúc ông phát huy hơn nữa bản sắc văn hóa làng nghề miền quê Việt Nam.

Cao Tuân - Duy Tuyên
http://dantri.com.vn/


17 April 2016

80% sản phẩm từ làng nghề truyền thống Việt được kết nối trên allunee.com



Ông Nguyễn Lực, Phó Chủ tịch thường trực Phía Nam Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (ảnh tamnhin.net)

Ra mắt trang thương mại điện tử www.allunee.com

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư Online - Baodautu.vn, ông Nguyễn Hữu Tiến, Chủ tịch Công ty cổ phần đầu tư Thiên Rồng Việt cho biết, trang thương mại điện tử www.allunee.com do Công ty quản lý mới được ra mắt tại TP.HCM.

Cũng theo ông Tiến, www.allunee.com sẽ trở thành sàn giao dịch thương mại điện tử với mong muốn cổ vũ và tạo xu hướng sử dụng và ủng hộ nhãn hiệu, sản phẩm Việt, doanh nghiệp Việt. Mục tiêu được đặt ra là trong một vài năm tới, trang thương mại điện tử này sẽ được biết đến như là một trong các tổ chức có uy tín và dịch vụ tốt tại Việt Nam để mua đúng hàng Việt Nam.

“80% sản phẩm từ làng nghề truyền thống của Việt Nam sẽ được giới thiệu tại đây và chủ đầu tư sẽ thực hiện nhiều giải pháp để kết nối các sản phẩm này tới người tiêu dùng trong và ngoài nước”, ông Tiến cam kết.

Ông Nguyễn Hữu Tiến, Chủ tịch Hội đồng quản trị Thiên Rồng Việt cùng đại biểu chúc mừng www.allunee.com đi vào hoạt động (ảnh tamnhin.net)

Theo ông  Nguyễn Lực, Phó chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng 5.000 làng nghề, thu hút khoảng 13 triệu lao động nông thôn. Hiện, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ làng nghề đạt 1,6 tỷ USD và cung cấp đủ nhu cầu cho thị trường nội địa. Sản phẩm của các làng nghề ngày càng thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước cả về chất lượng, thẩm mỹ và có bản sắc riêng.

“Hiện vẫn còn nhiều yếu kém đang tồn tại đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh tại làng nghề. Trong đó, việc xúc tiến bán hàng, tiêu thụ sản phẩm là yếu điểm chưa được cải thiện tương xứng với sản xuất và phát triển sản phẩm hiện nay”, ông Lực nói và cho rằng, để các doanh nghiệp bán lẻ, người tiêu dùng ngay thị trường trong nước cũng như các nhà nhập khẩu nước ngoài biết đến các sản phẩm của làng nghề Việt thì tận dụng các tiện ích từ internet để tiếp cận đối tác, khách hàng là giải pháp phù hợp, rẻ và tiện lợi.

Dịp này, Công ty Thiên Rồng Việt Việt còn ra mắt  Tạp chí chuyên đề Allunee và Dự án chuỗi 5 trong 1, đó là các hoạt động trong lĩnh xúc tiến thương mại đầu tư, xây dựng; truyền thông doanh nghiệp; giáo dục; dịch vụ lữ hành và các nhà hàng khách sạn, cà phê….

Hồng Sơn
____________
http://www.infolinks.com/join-us?aid=2715514


12 April 2016

Hà Nội đầu tư phát triển làng nghề truyền thống Bát Tràng và Vạn Phúc


Hà Nội đầu tư phát triển làng nghề truyền thống Bát Tràng và Vạn Phúc


UBND Thành phố Hà Nội vừa có chủ trương tổ chức thực hiện thí điểm mô hình dự án đầu tư bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại 2 làng nghề điển hình có điều kiện phát triển đồng bộ là làng gốm sứ Bát Tràng và làng dệt lụa Vạn Phúc.

Cụ thể, Dự án bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại làng gốm sứ Bát Tràng có diện tích nghiên cứu quy hoạch khoảng 120ha tại khu vực ngoài đê sông Hồng, nằm trên địa giới hành chính xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Dự án bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại làng dệt lụa Vạn Phúc có diện tích khu đất nghiên cứu quy hoạch khoảng 51,6ha (bao gồm: làng Vạn Phúc hiện có khoảng 38,2ha, khu đất đấu giá Vạn Phúc khoảng 1,84ha, một phần điểm tiểu thủ công nghiệp làng nghề Vạn Phúc khoảng 5,67ha, một phần dự án đầu tư Khu nhà ở TSQ Galaxy 1 khoảng 5,89ha), nằm trên địa giới hành chính phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, Hà Nội.

Theo thiết kế, dự án bảo tồn phát triển làng nghề phải đảm bảo có 07 khu vực chức năng chính gồm hệ thống bãi đỗ xe phục vụ du lịch và sản xuất, dịch vụ; Khu ẩm thực nhằm phục vụ các món truyền thống mang đậm bản sắc địa phương, Thủ đô Hà Nội, các vùng, miền trên khắp đất nước và các nhu cầu ẩm thực khác của du khách.

Khu hạ tầng kỹ thuật bao gồm: (1) Hệ thống giao thông nội bộ làng nghề; (2) Hệ thống hạ tầng dịch vụ du lịch: bố trí các công trình dịch vụ thuận tiện cho du khách (nhà vệ sinh công cộng, các ki-ốt bán hàng, các biển báo, chỉ dẫn,...); (3) Cải tạo xây dựng vườn hoa, cây xanh, sân vườn, tiểu cảnh kết hợp việc chỉnh trang, trang trí các công trình hiện có (kiến trúc mặt đứng các công trình nhà cổ, dân cư hiện có) để khôi phục không gian, cảnh quan khu vực làng nghề; (4) Hạ tầng khu vui chơi, giải trí, công viên, vườn hoa...; (5) Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải, hệ thống thu gom rác thải đảm bảo yêu cầu về vệ sinh môi trường và cảnh quan; 6) Hệ thống chiếu sáng đường, chiếu sáng công trình.

Khu vực công trình, địa điểm dành cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng (kết hợp vui chơi, thể thao), trên cơ sở bảo tồn, khai thác các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc như: biểu diễn chèo, múa rối nước.

Ngoài ra, dự án còn có khu vực thương mại giới thiệu và bán sản phẩm nghề truyền thống; Khu vực bảo tồn các công trình di tích lịch sử, công trình có giá trị văn hóa, cơ sở sản xuất nghề truyền thống; Khu vực xây dựng Bảo tàng hoặc Nhà truyền thống làng nghề.

Dự án bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch nhằm xây dựng điểm đến du lịch đạt tiêu chuẩn quốc tế; trên cơ sở phù hợp quy hoạch, bảo tồn, khai thác, phát huy tốt các giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc, nghề truyền thống của làng nghề; đảm bảo thân thiện với môi trường và hài hòa với cảnh quan khu vực.

UBND TP. Hà Nội đã giao Sở Du lịch chủ trì xây dựng Đề án đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại làng gốm sứ Bát Tràng và làng dệt lụa Vạn Phúc; Phối hợp với Tổng Công ty Du lịch Hà Nội hướng dẫn đơn vị tư vấn liên hệ và làm việc với UBND phường Vạn Phúc, UBND xã Bát Tràng để cung cấp thông tin trong quá trình nghiên cứu đề xuất phương án thiết kế ý tưởng.

Sở Quy hoạch kiến trúc chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan hoàn thiện hồ sơ, thủ tục pháp lý, chuẩn bị đề xuất UBND Thành phố tổ chức tuyển chọn phương án thiết kế ý tưởng và tổ chức Hội thảo về phương án bảo tồn, phát triển 2 làng nghề vào cuối tháng 4/2016.

Trang Nguyễn
http://baodautu.vn/

10 April 2016

Bảo tồn 2 làng nghề được công nhận di sản


Bảo tồn 2 làng nghề được công nhận di sản


UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết đã xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với “Nghề đóng xuồng, ghe” ở xã Long Hậu (H.Lai Vung) và “Nghề dệt chiếu Định Yên” ở xã Định Yên (H.Lấp Vò), trong giai đoạn từ năm 2016 - 2020. Nghề dệt chiếu được Bộ VH-TT-DL công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2013; còn nghề đóng ghe xuồng được công nhận vào năm 2014.

Qua quá trình phát triển hàng trăm năm, 2 làng nghề đến nay đã để lại nhiều giá trị di sản văn hóa quý báu cũng như giải quyết việc làm cho đông đảo người dân địa phương. Tuy nhiên, thời gian gần đây nhu cầu sử dụng sản phẩm làng nghề đang giảm dần. Để nâng cao năng suất, hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh, nhiều hộ đã chuyển sang sản xuất chiếu bằng máy thay vì thủ công, làm mất tính hấp dẫn của sản phẩm, đặt làng nghề trước nguy cơ mai một theo thời gian...

Do vậy, cần thiết phải có kế hoạch bảo tồn, phát huy giá trị để làng nghề phát triển trong điều kiện mới và lưu truyền cho đời sau. Cụ thể là khôi phục phiên chợ chiếu ma đêm, gắn với xây dựng tour - tuyến, đưa khách du lịch tham quan làng nghề; tiến hành khảo sát nắm chắc lại thực trạng 2 làng nghề; thị trường tiêu thụ sản phẩm; điều chỉnh phù hợp hỗ trợ làng nghề phát triển...

Thanh Dũng
http://thanhnien.vn/


27 March 2016

Phát triển bền vững làng nghề truyền thống


Gắn kết làng nghề truyền thống với du lịch sẽ góp phần bảo tồn và phát triển làng nghề một cách bền vững, mở rộng thị trường. Từ đó phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống trong mỗi làng nghề một cách tích cực.

Có nhiều tiềm năng

Cho đến nay, TPHCM vẫn còn giữ được nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng. Huyện Củ Chi có làng rế Phước Vĩnh An, làng rổ rá Mũi Lớn, làng bánh tráng Phú Hòa Đông, làng mành trúc Tân Thông Hội, làng đan bồ An Nhơn Tây. Huyện Bình Chánh có làng nghề xe nhang Lê Minh Xuân, làng đan đệm Tân Túc, làng dệt chiếu Nam Đa Phước, làng rượu An Phú Tây. Quận Tân Bình làng nghề lồng đèn Phú Bình, làng nghề thủy tinh Phú Thọ. Quận Gò Vấp có làng đúc lư đồng An Hội, làng dệt chiếu Bến Hải. Quận 4 có làng giày Khánh Hội. Quận 6 có làng chổi bông cỏ, xóm chổi lông gà. Quận 8 có làng dệt chiếu Bình An, làng bao giấy Bình Đông, làng đóng sửa ghe Cầu Rạch Ông. Quận Thủ Đức nổi tiếng với làng nem Thủ Đức. Quận 12 có làng chạm khắc gỗ Trung Mỹ Tây. Và còn nhiều những làng nghề, xóm nghề khác nữa đang tồn tại ở TPHCM…


Lồng đèn Trung thu sản xuất ở làng nghề lồng đèn Phú Bình (quận Tân Bình, TPHCM) có những sáng tạo mới, gần gũi cuộc sống. Ảnh: THANH HẢI

Mỗi làng nghề đều có giá trị văn hóa và sức hấp dẫn riêng. Chị Thu Nga, hướng dẫn viên du lịch, kể: “Có lần đưa đoàn khách Hà Lan đến Củ Chi tham quan địa đạo, sau đó tôi đưa khách vào thăm một lò bánh tráng, họ vô cùng thích thú, nhiều người nhờ chủ nhà cho học nghề tại chỗ tráng thử bánh. Họ còn ghi lại địa chỉ để liên lạc và tặng tiền cho chủ nhà nữa. Qua đó cho thấy những làng nghề có sức hấp dẫn du khách ở sự lạ lẫm trong cách làm sản phẩm thủ công dân dã”. Thật vậy, nhiều du khách nước ngoài đã tỏ ra rất thích thú khi đến tham quan làng nghề xe nhang ở xã Lê Minh Xuân, do được tận mắt quan sát biết được từng công đoạn làm thành những cây nhang. Nhiều du khách cũng cảm thấy thú vị khi đến thăm làng nghề sơn mài Thủ Đức, ngoài việc chứng kiến những nghệ nhân đục, chạm, mài..., họ còn được xem nhiều tác phẩm nghệ thuật sơn mài đặc sắc. Thế nên, phát triển du lịch làng nghề cũng là một thế mạnh của ngành du lịch TPHCM.

Để sự gắn kết trở nên hiệu quả

Văn hóa và cơ cấu làng nghề ở TPHCM đã bị biến đổi mạnh bởi quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Nhiều bất cập làm hạn chế sự phát triển du lịch làng nghề, như hạ tầng giao thông đến điểm làng nghề còn thiếu, trong khi đó chất lượng phục vụ du khách còn yếu. Đời sống của nghệ nhân còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng sáng tạo và ít đầu tư nên sản phẩm du lịch còn sơ sài, thậm chí nhiều người không giữ được nghề. Mặt khác, về quản lý, các ban, ngành tại địa phương thiếu sự phối hợp trong xây dựng, quy hoạch phát triển du lịch làng nghề. Vì vậy để các làng nghề thực sự là điểm đến hấp dẫn, cần phải xây dựng thương hiệu và nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề; đồng thời đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phục vụ du khách, đào tạo kỹ năng làm du lịch cho người dân làng nghề. Cần chú trọng gắn kết giữa làng nghề và các công ty du lịch, quảng bá du lịch phải được quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa. Đặc biệt, để phát triển du lịch làng nghề bền vững, cần quan tâm đến vấn đề môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất.

Để làng nghề ngày càng thu hút du khách, cần chú trọng bảo tồn các giá trị đặc sắc và có chính sách để phát triển hoạt động tại các làng nghề. Cụ thể, cần phân loại những ngành nghề truyền thống có khả năng tồn tại, phát triển và những ngành nghề có nguy cơ mai một, để có chính sách phù hợp; lựa chọn sản phẩm đặc trưng để đầu tư phát triển các làng nghề truyền thống có sản phẩm xuất khẩu thu ngoại tệ cao. Song song đó, Nhà nước cần có chính sách ổn định lâu dài đối với các vùng nguyên liệu có sẵn và tiếp tục quy hoạch các vùng nguyên liệu mới tại địa phương để đáp ứng nhu cầu của các làng nghề; đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực cho các làng nghề, trong đó vai trò của nghệ nhân cũng như cộng đồng cần được phát huy trong việc dạy nghề, truyền nghề tại các làng nghề. Nếu làm tốt công tác gắn kết du lịch với làng nghề truyền thống, thì du lịch làng nghề không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có những giá trị nhân văn tốt đẹp.

Nếu muốn làng nghề hưng thịnh, phải có hợp tác xã để chăm lo việc hướng dẫn truyền nghề và phương thức kinh doanh, tổ chức xúc tiến thương mại, triển khai các chính sách tư vấn đến các hộ sản xuất. Ngay tại làng nghề, cần có cơ sở kinh doanh tại chỗ bán giá rẻ. Sản phẩm của làng nghề cần giữ gìn được các giá trị bản sắc dân tộc, đồng thời hợp thị hiếu của người tiêu dùng. Do vậy rất cần có nhà thiết kế để có những sáng tạo mới, gần gũi cuộc sống.

Thạc sĩ TRỊNH THỊ HIỀN 
(Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM)
http://www.sggp.org.vn/nhipcaubandoc/2016/3/415614/

21 March 2016

Tận dụng tối đa các FTA để đạt mục tiêu xuất khẩu


(VEN) - Rất nhiều mặt hàng xuất khẩu (XK) chủ lực của Việt Nam như nông sản, thủy sản… đã đạt đến ngưỡng, trong khi Đề án phát triển các thị trường khu vực thời kỳ 2015-2020, tầm nhìn đến năm 2030 đặt ra mục tiêu nâng kim ngạch XK lên 300 tỷ USD năm 2020 và đạt tốc độ tăng trưởng XK 11-12%/năm. Đây được coi là mục tiêu lớn và khó hoàn thành nếu các hiệp định thương mại tự do (FTA) không được tận dụng tối đa.

Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu

XK được dự báo sẽ còn gặp nhiều khó khăn khi nền kinh tế thế giới vẫn phục hồi tương đối chậm. Đây là thách thức để nước ta hoàn thành mục tiêu nâng kim ngạch XK lên 300 tỷ USD vào năm 2020 và đạt tốc độ tăng trưởng XK 11-12%/năm. Để đạt được mục tiêu, các FTA vừa được ký kết và sắp có hiệu lực cần được tận dụng tối đa, bởi theo tính toán của Bộ Công Thương, XK của Việt Nam mới chỉ chiếm trên dưới 1% tổng nhập khẩu của các thị trường có FTA với Việt Nam. Cơ hội cho hàng hóa Việt Nam vẫn còn tương đối nhiều.

Đơn cử như năm 2015, tổng kim ngạch nhập khẩu của Hàn Quốc đạt 527,2 tỷ USD tỷ USD, trong khi kim ngạch XK của Việt Nam sang thị trường này chỉ đạt 8,94 tỷ USD, chiếm gần 1,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của nước này. Theo con số của Bộ Công Thương, hàng Việt Nam mới chiếm khoảng 0,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của thị trường Liên minh Kinh tế Á - Âu, 1,25% tổng kim ngạch nhập khẩu của thị trường EU, 1,16% tổng kim ngạch nhập khẩu của các thị trường TPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương).

Các cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ trong các FTA, với mức cắt giảm thuế sâu rộng, sẽ mở đường cho hàng hóa Việt Nam, nhất là các mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam như dệt may, thủy sản, nông lâm sản… vào nhiều thị trường trên thế giới. Các FTA cũng sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào Việt Nam để sản xuất hàng XK, như trường hợp Samsung đã đầu tư rất lớn vào sản xuất linh kiện, điện thoại ở nước ta. Điều này sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình nội địa hóa, tăng giá trị hàng XK của Việt Nam, giúp Việt Nam đạt mục tiêu XK 300 tỷ USD vào năm 2020.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, hàng XK Việt Nam cần được gia tăng cả về số lượng, chất lượng, giá trị gia tăng theo đúng các điều kiện về nguồn gốc, xuất xứ để đảm bảo việc vào các thị trường quốc tế một cách suôn sẻ. Đơn cử như thị trường EU là thị trường rộng lớn với đòi hỏi rất cao về chất lượng hàng hóa, cho nên, để tận dụng được cơ hội XK vào thị trường này, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh cho sản phẩm là yếu tố quan trọng hàng đầu.

Với một số thị trường ở xa như các quốc gia thuộc Liên minh Kinh tế Á - Âu, khoảng cách địa lý là một rào cản, nếu không có biện pháp phù hợp thì chi phí về vận tải sẽ làm tăng giá sản phẩm, gây bất lợi cho hàng hóa của Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam được khuyến cáo cần tính toán về phương tiện vận tải phù hợp để hàng hóa có được sức cạnh tranh cao nhất. Phương thức thanh toán cũng là yếu tố quan trọng cần chú ý và các doanh nghiệp Việt Nam phải bàn rất kỹ với các đối tác của Liên minh để làm sao khi tiêu thụ hàng hóa hay mua sản phẩm từ phía bạn không bị vướng bởi các điều khoản thanh toán, thuận lợi về giao dịch.

Bảo Ngọc


19 March 2016

Nghệ thuật trang trí của người Thái Nghệ An


Dân trí Nghệ thuật trang trí của người Thái rất phong phú và độc đáo, có tới trên ba mươi loại hoa văn, hoạ tiết, thể hiện sống động trên thổ cẩm, trang trí nhà cửa. Có thể nói mỗi người con gái Thái là một nghệ nhân tài hoa.

Người Thái chiếm số đông trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Nghệ An. Khi nói đến tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Thái, chúng ta không thể không nói đến nghệ thuật trang trí. Việc biết thêu thùa, dệt vải được coi là tiêu chuẩn, là sự tất yếu cần phải có: ''Nhinh hụ pẳn phài, xai hụ san he''- Gái biết dệt vải, trai biết đan chài.

Thổ cẩm của người Thái Nghệ An thường sử dụng các màu trắng, đỏ, vàng, xanh lá cây, tím tạo ấn tượng mạnh. Hoạ tiết thể hiện sự đối xứng, phản ánh quan niệm về vũ trụ, triết lý âm dương, đất trời cùng vạn vật...

Lấy thiên nhiên làm hình mẫu, thổ cẩm của người Thái Nghệ An không khác nào cảnh thiên nhiên thu nhỏ. Đó là những hình thoi như quả trám chạy viền, hoa ban cách điệu, con suối với thác ghềnh tung bọt trắng xoá, đây đó những chùm hoa buông dài như xà tích, lá đơn, lá kép, búp cây, dây leo, cây guột...

Thiếu nữ Thái trong bộ đồ áo thổ cẩm truyền thống.

Thế giới động vật được phản ánh trên thổ cẩm rất đa dạng: Con khỉ tinh nhanh, lanh lợi và hiếu động như trẻ thơ. Con rái cá tượng trưng cho tình yêu sắt son chung thuỷ, gia đình hạnh phúc. Ở mặt chăn thường có hình con thuồng luồng thể hiện tình cảm, ước mơ và lòng vị tha cao cả của người mẹ, người vợ.

Mỗi vùng, mỗi nhóm tộc, thổ cẩm của người Thái Nghệ An cũng khác nhau. Nếu như thổ cẩm của nhóm Thái Thanh có mầu thẫm hơn, sử dụng nhiều gam màu trầm như hướng tới sự suy tư trăn trở của chiều sâu tâm lý, thì thổ cẩm của người Thái Hàng tổng (Thái - Mường) lại tươi sáng, rực rỡ, bay bổng những ước mơ, khát vọng.

Nhà cửa của người Thái cơ bản theo hình mẫu của thổ cẩm. Nhà sàn của người Thái cổ có hai bếp lửa - ''Tâu phày''. Bếp lửa phía ''tang quản'' dành cho người già, khách quí; bếp chính ở phía ''tang chan'' dành cho nữ giới và những công việc nội trợ, đây còn là nơi tỏ tình của trai gái. Giữa núi rừng trùng điệp, bếp lửa hồng trên nhà sàn như trái tim hồng, sưởi ấm và nuôi dưỡng cả về vật chất và tinh thần cho mỗi con người.

Từ bếp dành cho người già đến hết cầu thang dành cho nam giới gọi là ''quản''. Đây là nơi dành riêng cho đàn ông, phụ nữ không được đến khu vực này, trừ một số trường hợp đặc biệt. Nơi đây có gian thờ tổ tiên - ''hỏng hóng'' và cột thiêng - ''sau hẹ''. Trên cột thiêng treo hình thần rùa bằng gỗ, ba bông lúa - ''sam huống khẩu'' và ba nhánh rau thì là - ''sam hóm si la''... Ngoài ý nghĩa có tính biểu tượng của tô tem giáo thì đây còn mang bóng dáng của thuyết thiên - địa - nhân.

Thiếu nữ Thái với những bộ trang phục truyền thống trong ngày hội.

Ngôi nhà sàn của người Thái vừa trang nhã, vừa chắc chắn: ''Nhà tốt dựng nơi cao ráo/nhà đẹp dựng giữa mường/gió to thổi không xiêu/bão lớn không lay động''.

Nhà sàn được trang trí nhiều hoa văn hoạ tiết tinh xảo trên bậu cửa sổ, trên các tấm ván hình răng cưa làm chấn song của sổ, ''khau cút'' của nhà sàn nhóm Thái Thanh đã trở thành tiêu chí về vẻ đẹp của ngôi nhà sàn người Thái cổ xưa.

''Khau cút'' là hai tấm ván đóng chéo nhau hình chữ X trên đòn nóc trước hết để chắn gió cho mái tranh hai đầu hồi nhà. Những gia đình quý tộc xưa còn làm thêm bông sen cách điệu ở giao điểm hai tấm ván và những hình trăng khuyết hướng vào nhau so le trên ''khau cút''.

Giải thích về biểu tượng ''khau cút'' có nhiều ý kiến khác nhau như: Đó là cặp sừng trâu cách điệu, biểu tượng của một nền văn minh lúa nước, hoặc đó là những búp cây guột có nhiều ở miền núi phía tây Nghệ An, hay gắn với cuộc thiên di tìm miền đất hứa của người Thái, anh em luôn nhớ về nhau... Dù có cách giải thích thế nào, thì khi bắt gặp hình ''khau cút'' trên nóc nhà sàn, là mỗi người Thái lại thêm ấm lòng, nhớ về anh em, bản mường yêu dấu.

Trên bậu cửa sổ thường chạm hình đôi thuồng luồng, linh vật làm chủ sông, suối, biểu tượng của sức mạnh và gia đình hạnh phúc. Trên các chấn song cửa sổ là các hoa văn, hoạ tiết mô phỏng thiên nhiên theo hình đối xứng hoặc lặp lại. Đó là những hình thoi như quả trám, hoa ban, búp cây guột...

Nhà sàn của nhóm Thái Mường - thường có lan can xung quanh hoặc trước nhà rất đẹp. Thiên nhiên được phản ánh một cách sống động, thể hiện tinh tế quan điểm về vũ trụ, âm dương ngũ hành và ý nghĩa nhân sinh cao đẹp.

Trải bao năm tháng, nghệ thuật trang trí của người Thái Nghệ An được gìn giữ và phát huy, góp phần làm nên một bản sắc văn hoá đặc thù. Ngày nay, nghệ thuật trang trí còn giúp cho đời sống của người Thái Nghệ An được cải thiện đáng kể.

Thổ cẩm đã trở thành hàng hoá thời mở cửa. Những sắc màu, những hoa văn, hoạ tiết được các cô gái Thái thổi hồn, ''sấp đôi bàn tay đã thành hoa văn, ngửa đôi bàn tay đã thành hoa lá'', giới thiệu với đồng bào cả nước và bè bạn năm châu.

Vi Hợi - Nguyễn Duy

10 March 2016

Top 20 làng nghề truyền thống nổi tiếng Việt Nam - Năm 2016 (P2)


Top 20 làng nghề truyền thống nổi tiếng Việt Nam - Năm 2016 (P2)

(Vietkings) - Các làng nghề truyền thống Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước với những sản phẩm vô cùng chất lượng và độc đáo. Sản phẩm của nghề truyền thống đã thể hiện rõ và bảo tồn được những nét, những sắc thái độc đáo của dân tộc.

Những giá trị văn hóa của dân tộc thể hiện tư duy của người Việt triết lý Á Đông, phong tục tập quán đặc sắc, truyền thống dân tộc, phong cách sống... đều được thể hiện qua nét vẽ, hình mẫu, cách trang trí và cấu trúc của sản phẩm. Dưới đây Vietkings chính thức công bố top 20 làng nghề truyền thống Việt Nam nổi tiếng hiện còn với những sản phẩm độc đáo và tinh xảo được nhiều du khách trong và ngoài nước yêu thích.

11. Làng nghề Kim hoàn Kế Môn (Thừa Thiên – Huế)


Làng Kế Môn thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế là làng nghề kim hoàng nổi tiếng hơn 300 năm nay. Vị tổ của làng nghề này là ông Cao Đình Độ, người làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, di cư vào làng Kế Môn vào cuối đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Đến đời vua Quang Trung, ông Độ được triệu vào cung lập Cơ vệ ngành ngân tượng chuyên làm đồ trang sức cho Hoàng gia. Đến đời vua Gia Long, Cao Đình Độ và Cao Đình Hương (con trai ông) vẫn được giữ lại làm ngân tượng cho đến khi mất (1810; 1821).

Sản phẩm kim hoàn ở Kế Môn nổi tiếng có chất lượng tốt so với nhiều nơi khác với kỹ thuật tay nghề tinh xảo và chạm khắc cầu kỳ được làm ra bởi những người thợ có kinh nghiệm, khéo tay và giàu khiếu thẩm mỹ sáng tạo, thể hiện rõ nhất là trên các đồ trang sức như vòng, kiềng, nhẫn, lắc, dây chuyền, khuyên tai bằng vàng hoặc bạc.

12. Làng nón Tây Hồ - Phú Vang (TT Huế)


Nón lá Tây Hồ nổi tiếng bởi độ mỏng, thanh, màu sắc nền nã và đường kim, mũi chỉ đều, đẹp nên người tiêu dùng rất yêu chuộng. Nón lá là vật trang sức làm duyên thêm nét đẹp của những thiếu nữ và là vật che nắng hữu hiệu của nhiều người. Người dân quê đi chợ, đi làm ruộng không thể thiếu chiếc nón lá đội đầu. Nón lá đã gắn bó với cuộc sống của người nông dân Tây Hồ một nắng hai sương trên đồng ruộng một cách tự nhiên và bền bỉ dù cuộc sống đã có nhiều đổi thay.

Không chỉ nổi tiếng với nón lá bài thơ, dân làng Tây Hồ còn rất khéo léo khi tạo ra những chiếc nón lá kè hai lớp bền, đẹp, đội mát.

13. Làng Đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng)


Làng đá mỹ nghệ Non Nước được hình thành từ thế kỷ 18 do ông Huỳnh Bá Quát mang nghề từ tỉnh Thanh Hóa vào khai thác. Mấy mươi năm sau, làng Quan Khái (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn) đều sinh sống và phát triển bằng nghề này. Những sản phẩm đá mỹ nghệ ở đây như: tượng Phật, tuợng Thánh, tượng người và muôn thú cũng như các loại vòng đeo tay, đeo cổ... đều được đẽo, tạc từ những khối đá cẩm thạch có vân rất đẹp được lấy từ Ngũ Hành Sơn. Từ đất đá vô cảm, người nghệ nhân làng mỹ nghệ Hòa Hải đã thổi vào đó tâm hồn của con người, để rồi những thứ quà tinh xảo thuộc cả mô típ truyền thống và hiện đại nơi đây theo chân du khách có mặt khắp nơi trên thế giới.

14. Làng Điêu khắc gỗ Kim Bồng (Hội An – Quảng Nam)


Kim Bồng là làng nghề chạm trỗ điêu khắc gỗ nổi tiếng từ xa xưa. Kim Bồng thuộc phường Cẩm Kim, thành phố Hội An. Nghề mộc ở đây có nguồn gốc xuất xứ từ miền Bắc, được các nghệ nhân mộc làng Kim Bồng học hỏi, phối hợp với nghệ thuật chạm khắc của người Chăm, Trung Hoa và Nhật Bản để tạo nên những tác phẩm điêu khắc gỗ mang tính mỹ thuật và triết học cao.

Sản phẩm điêu khắc gỗ của Kim Bồng đã hiện diện ở nhiều gia đình, nhiều địa phương trong nước và nhiều quốc gia ở 5 châu lục.

15. Làng nghề đúc đồng Phước Kiều (Quảng Nam)


Làng nghề đúc đồng Phước Kiều thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn. Người thợ đúc Phước Kiều tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm phục vụ cho việc tế lễ, hội hè và vật dụng sinh hoạt hàng ngày như : chuông đồng, chiêng, kiểng, mõ, phèng la, lư hương, chân đèn, bình cổ…và một số nhạc cụ bằng đồng.

16. Làng nghề gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận)


Làng nghề cổ truyền gốm Bàu Trúc là làng gốm cổ ở Đông Nam Á, tại thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, cách Phan Rang-Tháp Chàm khoảng 10 km về hướng Nam. Tại đây du khách có thể xem những nghệ nhân người Chăm trực tiếp thao tác làm ra những sản phẩm gốm bằng đôi bài tay khéo léo của mình, xem những bãi nung gốm lộ thiên và mua sắm sản phẩm gốm làm quà lưu niệm. Sản phẩm gốm rất độc đáo, được làm hoàn toàn bằng tay khéo léo cùng những công cụ thô sơ như vòng tre, vỏ sò để tạo ra những đường nét hoa văn trên sản phẩm gốm. Nghề làm gốm rất công phu, vật liệu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm gốm ở Bàu Trúc. Đó là một loại đất sét đặc biệt được lấy bên bờ sông Quao, đem về đó đập nhỏ và trộn với cát mịn nhào nhuyễn. Lượng cát được trộn vào tuỳ thuộc theo kích thước và công dụng của mỗi loại sản phẩm. Do đó gốm Bàu Trúc hoàn toàn khác so với gốm của những nơi khác.

17. Làng nghề thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp - Chung Mỹ (Ninh Thuận)


Rời làng gốm Bàu Trúc, đi về hướng Đông Nam khoảng 3 km, du khách sẽ đến thăm làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp-Chung Mỹ, người Chăm gọi là Chakleng. Nét độc đáo của làng nghề dệt là dệt theo dạng thủ công truyền thống, những sản phẩm thổ cẩm làm ra vẫn còn lưu giữ gần như nguyên vẹn trong từng công đoạn, bí quyết, chất liệu, hoa văn của thời xa xưa để lại. Đến đây, du khách sẽ được chứng kiến đôi bàn tay thuần thục của những người thợ, sự khéo léo của các nghệ nhân để làm nên sản phẩm thổ cẩm tuyệt đẹp. Trong những năm gần đây sản phẩm thổ cẩm Mỹ Nghiệp-Chung Mỹ ngày càng đa dạng và phong phú: ngoài chăn, áo, khăn người ta còn làm các loại khác như cà vạt, túi xách, bóp, ví… để phục vụ khách mua quà lưu niệm trong chuyến du lịch về Ninh Thuận.

18. Làng nghề gốm sứ Lái Thiêu (Bình Dương)


Bình Dương vốn nổi tiếng với nghề làm gốm. Các sản phẩm gốm sứ sản xuất ở đây đều mang những đặc điểm riêng biệt, bóng, bền, đẹp, mẫu mã phong phú được người tiêu dùng ưa chuộng. Nghề làm gốm sứ Sông Bé trước đây và Bình Dương ngày nay đã phát triển đến trình độ cao từ đồ gia dụng, đồ trang trí mỹ nghệ đến đồ sứ công nghiệp.

19. Làng Tranh sơn mài Tương Bình Hiệp (Bình Dương)


Nổi tiếng nhất ở làng tranh sơn mài Bình Dương là làng tranh Tương Bình Hiệp, nằm cách thành phố Thủ Dầu Một 7km về phía bắc. Đến đây, du khách sẽ được chứng kiến từng công đoạn của nghề truyền thống sơn mài chỉ có ở Việt Nam. Với hàng trăm hộ làm tranh sơn mài, có hộ chỉ làm một hai công đoạn của tấm tranh rồi giao lại cho các hộ khác làm những công đoạn tiếp theo.

Có thể nói ở Tương Bình Hiệp, nghề làm tranh sơn mài đã được công nghiệp hóa với những dây chuyền sản xuất rạch ròi nhưng hoàn toàn mang tính gia đình, tinh xảo nhẹ nhàng mang đậm phong cách Á Đông. Những sản phẩm tranh sơn mài Bình Dương được người yêu tranh Việt Nam và thế giới ưa chuộng mua về treo trong nhà một cách trang trọng.

20. Làng dệt thổ cẩm Châu Giang (An Giang)


Đây là làng nghề mang nét đẹp và chiều sâu văn hoá giàu bản sắc của thổ cẩm dân tộc Chăm. Thổ cẩm Châu Giang không những mang nét đẹp truyền thống của thổ cẩm mà còn mang nét đặc sắc của văn hoá Chăm với các đường nét lạ độc đáo với nhiều loại sản phẩm thổ cẩm đa dạng như: xàrông, khăn choàng, nón, áo khoác…

TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM

 

Kết mối với chúng tôi

Người xem

Liên hệ

Name

Email *

Message *

Video lưu trữ

Đăng ký cập nhật bài mới