Gốm sứ mỹ nghệ việt nam trên thi trường thế giới

Dù muốn hay không, các làng nghề gốm cũng đang ở trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thị trường của sản phẩm gốm sứ hiện nay là thị trường rộng lớn của 150 nước thành viên của WTO và khách hàng tiềm năng có thể thuộc hàng trăm dân tộc và nền văn hóa khác nhau.

Phố đàn Nguyễn Thiện Thuật- Làng đờn quận 4.

Ở Tp.HCM có một con đường được nhiều người gọi là phố đàn, đó là con đường Nguyễn Thiện Thuật nằm trên địa bàn quận 3. Những cửa hàng này có cái thâm niên đã mấy chục năm, nhưng có cái cũng chỉ mới mở vài ba năm với những cái tên như: Dung đàn, Guitar gỗ, Ngọc Hồ, Bình Guitar...

Doanh nhân Nguyễn Thị Đẹp - Người thổi "Hồn" cho hoa

Bước vào không gian trưng bày các sản phẩm thủ công của doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh, bất cứ ai cũng sẽ có cảm giác như lạc vào thế giới sắc màu với những sản phẩm nghệ thuật độc đáo từ hoa khô.Những vật liệu tự nhiên dưới bàn tay khéo léo của người thợ lành nghề, đã hình thành nên các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc như: bông hoa, giỏ hoa, quả cầu thủ công

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hữu Hạnh: Những bức tranh thêu gây hai niềm rung cảm

Ai là con gái Đà Lạt ít nhiều cũng biết đan móc, thêu thùa, vá may; chị Nguyễn Thị Hữu Hạnh cũng vậy, từ nhỏ đã quen thuộc với đường kim mũi chỉ trên những chiếc khăn. Được mẹ khen khéo tay, thêu đẹp, chị thêm thích thú với công việc.

Làng nghề gốm người Khmer Nam bộ

Điểm đặc sắc trong làng nghề gốm Tri Tôn là không dùng bàn xoay hoặc ứng dụng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào. Đơn thuần chỉ bằng tay với kinh nghiệm mang tính bẩm sinh.

27 March 2016

Phát triển bền vững làng nghề truyền thống


Gắn kết làng nghề truyền thống với du lịch sẽ góp phần bảo tồn và phát triển làng nghề một cách bền vững, mở rộng thị trường. Từ đó phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống trong mỗi làng nghề một cách tích cực.

Có nhiều tiềm năng

Cho đến nay, TPHCM vẫn còn giữ được nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng. Huyện Củ Chi có làng rế Phước Vĩnh An, làng rổ rá Mũi Lớn, làng bánh tráng Phú Hòa Đông, làng mành trúc Tân Thông Hội, làng đan bồ An Nhơn Tây. Huyện Bình Chánh có làng nghề xe nhang Lê Minh Xuân, làng đan đệm Tân Túc, làng dệt chiếu Nam Đa Phước, làng rượu An Phú Tây. Quận Tân Bình làng nghề lồng đèn Phú Bình, làng nghề thủy tinh Phú Thọ. Quận Gò Vấp có làng đúc lư đồng An Hội, làng dệt chiếu Bến Hải. Quận 4 có làng giày Khánh Hội. Quận 6 có làng chổi bông cỏ, xóm chổi lông gà. Quận 8 có làng dệt chiếu Bình An, làng bao giấy Bình Đông, làng đóng sửa ghe Cầu Rạch Ông. Quận Thủ Đức nổi tiếng với làng nem Thủ Đức. Quận 12 có làng chạm khắc gỗ Trung Mỹ Tây. Và còn nhiều những làng nghề, xóm nghề khác nữa đang tồn tại ở TPHCM…


Lồng đèn Trung thu sản xuất ở làng nghề lồng đèn Phú Bình (quận Tân Bình, TPHCM) có những sáng tạo mới, gần gũi cuộc sống. Ảnh: THANH HẢI

Mỗi làng nghề đều có giá trị văn hóa và sức hấp dẫn riêng. Chị Thu Nga, hướng dẫn viên du lịch, kể: “Có lần đưa đoàn khách Hà Lan đến Củ Chi tham quan địa đạo, sau đó tôi đưa khách vào thăm một lò bánh tráng, họ vô cùng thích thú, nhiều người nhờ chủ nhà cho học nghề tại chỗ tráng thử bánh. Họ còn ghi lại địa chỉ để liên lạc và tặng tiền cho chủ nhà nữa. Qua đó cho thấy những làng nghề có sức hấp dẫn du khách ở sự lạ lẫm trong cách làm sản phẩm thủ công dân dã”. Thật vậy, nhiều du khách nước ngoài đã tỏ ra rất thích thú khi đến tham quan làng nghề xe nhang ở xã Lê Minh Xuân, do được tận mắt quan sát biết được từng công đoạn làm thành những cây nhang. Nhiều du khách cũng cảm thấy thú vị khi đến thăm làng nghề sơn mài Thủ Đức, ngoài việc chứng kiến những nghệ nhân đục, chạm, mài..., họ còn được xem nhiều tác phẩm nghệ thuật sơn mài đặc sắc. Thế nên, phát triển du lịch làng nghề cũng là một thế mạnh của ngành du lịch TPHCM.

Để sự gắn kết trở nên hiệu quả

Văn hóa và cơ cấu làng nghề ở TPHCM đã bị biến đổi mạnh bởi quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Nhiều bất cập làm hạn chế sự phát triển du lịch làng nghề, như hạ tầng giao thông đến điểm làng nghề còn thiếu, trong khi đó chất lượng phục vụ du khách còn yếu. Đời sống của nghệ nhân còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng sáng tạo và ít đầu tư nên sản phẩm du lịch còn sơ sài, thậm chí nhiều người không giữ được nghề. Mặt khác, về quản lý, các ban, ngành tại địa phương thiếu sự phối hợp trong xây dựng, quy hoạch phát triển du lịch làng nghề. Vì vậy để các làng nghề thực sự là điểm đến hấp dẫn, cần phải xây dựng thương hiệu và nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề; đồng thời đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phục vụ du khách, đào tạo kỹ năng làm du lịch cho người dân làng nghề. Cần chú trọng gắn kết giữa làng nghề và các công ty du lịch, quảng bá du lịch phải được quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa. Đặc biệt, để phát triển du lịch làng nghề bền vững, cần quan tâm đến vấn đề môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất.

Để làng nghề ngày càng thu hút du khách, cần chú trọng bảo tồn các giá trị đặc sắc và có chính sách để phát triển hoạt động tại các làng nghề. Cụ thể, cần phân loại những ngành nghề truyền thống có khả năng tồn tại, phát triển và những ngành nghề có nguy cơ mai một, để có chính sách phù hợp; lựa chọn sản phẩm đặc trưng để đầu tư phát triển các làng nghề truyền thống có sản phẩm xuất khẩu thu ngoại tệ cao. Song song đó, Nhà nước cần có chính sách ổn định lâu dài đối với các vùng nguyên liệu có sẵn và tiếp tục quy hoạch các vùng nguyên liệu mới tại địa phương để đáp ứng nhu cầu của các làng nghề; đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực cho các làng nghề, trong đó vai trò của nghệ nhân cũng như cộng đồng cần được phát huy trong việc dạy nghề, truyền nghề tại các làng nghề. Nếu làm tốt công tác gắn kết du lịch với làng nghề truyền thống, thì du lịch làng nghề không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có những giá trị nhân văn tốt đẹp.

Nếu muốn làng nghề hưng thịnh, phải có hợp tác xã để chăm lo việc hướng dẫn truyền nghề và phương thức kinh doanh, tổ chức xúc tiến thương mại, triển khai các chính sách tư vấn đến các hộ sản xuất. Ngay tại làng nghề, cần có cơ sở kinh doanh tại chỗ bán giá rẻ. Sản phẩm của làng nghề cần giữ gìn được các giá trị bản sắc dân tộc, đồng thời hợp thị hiếu của người tiêu dùng. Do vậy rất cần có nhà thiết kế để có những sáng tạo mới, gần gũi cuộc sống.

Thạc sĩ TRỊNH THỊ HIỀN 
(Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM)
http://www.sggp.org.vn/nhipcaubandoc/2016/3/415614/

21 March 2016

Tận dụng tối đa các FTA để đạt mục tiêu xuất khẩu


(VEN) - Rất nhiều mặt hàng xuất khẩu (XK) chủ lực của Việt Nam như nông sản, thủy sản… đã đạt đến ngưỡng, trong khi Đề án phát triển các thị trường khu vực thời kỳ 2015-2020, tầm nhìn đến năm 2030 đặt ra mục tiêu nâng kim ngạch XK lên 300 tỷ USD năm 2020 và đạt tốc độ tăng trưởng XK 11-12%/năm. Đây được coi là mục tiêu lớn và khó hoàn thành nếu các hiệp định thương mại tự do (FTA) không được tận dụng tối đa.

Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu

XK được dự báo sẽ còn gặp nhiều khó khăn khi nền kinh tế thế giới vẫn phục hồi tương đối chậm. Đây là thách thức để nước ta hoàn thành mục tiêu nâng kim ngạch XK lên 300 tỷ USD vào năm 2020 và đạt tốc độ tăng trưởng XK 11-12%/năm. Để đạt được mục tiêu, các FTA vừa được ký kết và sắp có hiệu lực cần được tận dụng tối đa, bởi theo tính toán của Bộ Công Thương, XK của Việt Nam mới chỉ chiếm trên dưới 1% tổng nhập khẩu của các thị trường có FTA với Việt Nam. Cơ hội cho hàng hóa Việt Nam vẫn còn tương đối nhiều.

Đơn cử như năm 2015, tổng kim ngạch nhập khẩu của Hàn Quốc đạt 527,2 tỷ USD tỷ USD, trong khi kim ngạch XK của Việt Nam sang thị trường này chỉ đạt 8,94 tỷ USD, chiếm gần 1,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của nước này. Theo con số của Bộ Công Thương, hàng Việt Nam mới chiếm khoảng 0,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của thị trường Liên minh Kinh tế Á - Âu, 1,25% tổng kim ngạch nhập khẩu của thị trường EU, 1,16% tổng kim ngạch nhập khẩu của các thị trường TPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương).

Các cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ trong các FTA, với mức cắt giảm thuế sâu rộng, sẽ mở đường cho hàng hóa Việt Nam, nhất là các mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam như dệt may, thủy sản, nông lâm sản… vào nhiều thị trường trên thế giới. Các FTA cũng sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào Việt Nam để sản xuất hàng XK, như trường hợp Samsung đã đầu tư rất lớn vào sản xuất linh kiện, điện thoại ở nước ta. Điều này sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình nội địa hóa, tăng giá trị hàng XK của Việt Nam, giúp Việt Nam đạt mục tiêu XK 300 tỷ USD vào năm 2020.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, hàng XK Việt Nam cần được gia tăng cả về số lượng, chất lượng, giá trị gia tăng theo đúng các điều kiện về nguồn gốc, xuất xứ để đảm bảo việc vào các thị trường quốc tế một cách suôn sẻ. Đơn cử như thị trường EU là thị trường rộng lớn với đòi hỏi rất cao về chất lượng hàng hóa, cho nên, để tận dụng được cơ hội XK vào thị trường này, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh cho sản phẩm là yếu tố quan trọng hàng đầu.

Với một số thị trường ở xa như các quốc gia thuộc Liên minh Kinh tế Á - Âu, khoảng cách địa lý là một rào cản, nếu không có biện pháp phù hợp thì chi phí về vận tải sẽ làm tăng giá sản phẩm, gây bất lợi cho hàng hóa của Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam được khuyến cáo cần tính toán về phương tiện vận tải phù hợp để hàng hóa có được sức cạnh tranh cao nhất. Phương thức thanh toán cũng là yếu tố quan trọng cần chú ý và các doanh nghiệp Việt Nam phải bàn rất kỹ với các đối tác của Liên minh để làm sao khi tiêu thụ hàng hóa hay mua sản phẩm từ phía bạn không bị vướng bởi các điều khoản thanh toán, thuận lợi về giao dịch.

Bảo Ngọc


19 March 2016

Nghệ thuật trang trí của người Thái Nghệ An


Dân trí Nghệ thuật trang trí của người Thái rất phong phú và độc đáo, có tới trên ba mươi loại hoa văn, hoạ tiết, thể hiện sống động trên thổ cẩm, trang trí nhà cửa. Có thể nói mỗi người con gái Thái là một nghệ nhân tài hoa.

Người Thái chiếm số đông trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Nghệ An. Khi nói đến tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Thái, chúng ta không thể không nói đến nghệ thuật trang trí. Việc biết thêu thùa, dệt vải được coi là tiêu chuẩn, là sự tất yếu cần phải có: ''Nhinh hụ pẳn phài, xai hụ san he''- Gái biết dệt vải, trai biết đan chài.

Thổ cẩm của người Thái Nghệ An thường sử dụng các màu trắng, đỏ, vàng, xanh lá cây, tím tạo ấn tượng mạnh. Hoạ tiết thể hiện sự đối xứng, phản ánh quan niệm về vũ trụ, triết lý âm dương, đất trời cùng vạn vật...

Lấy thiên nhiên làm hình mẫu, thổ cẩm của người Thái Nghệ An không khác nào cảnh thiên nhiên thu nhỏ. Đó là những hình thoi như quả trám chạy viền, hoa ban cách điệu, con suối với thác ghềnh tung bọt trắng xoá, đây đó những chùm hoa buông dài như xà tích, lá đơn, lá kép, búp cây, dây leo, cây guột...

Thiếu nữ Thái trong bộ đồ áo thổ cẩm truyền thống.

Thế giới động vật được phản ánh trên thổ cẩm rất đa dạng: Con khỉ tinh nhanh, lanh lợi và hiếu động như trẻ thơ. Con rái cá tượng trưng cho tình yêu sắt son chung thuỷ, gia đình hạnh phúc. Ở mặt chăn thường có hình con thuồng luồng thể hiện tình cảm, ước mơ và lòng vị tha cao cả của người mẹ, người vợ.

Mỗi vùng, mỗi nhóm tộc, thổ cẩm của người Thái Nghệ An cũng khác nhau. Nếu như thổ cẩm của nhóm Thái Thanh có mầu thẫm hơn, sử dụng nhiều gam màu trầm như hướng tới sự suy tư trăn trở của chiều sâu tâm lý, thì thổ cẩm của người Thái Hàng tổng (Thái - Mường) lại tươi sáng, rực rỡ, bay bổng những ước mơ, khát vọng.

Nhà cửa của người Thái cơ bản theo hình mẫu của thổ cẩm. Nhà sàn của người Thái cổ có hai bếp lửa - ''Tâu phày''. Bếp lửa phía ''tang quản'' dành cho người già, khách quí; bếp chính ở phía ''tang chan'' dành cho nữ giới và những công việc nội trợ, đây còn là nơi tỏ tình của trai gái. Giữa núi rừng trùng điệp, bếp lửa hồng trên nhà sàn như trái tim hồng, sưởi ấm và nuôi dưỡng cả về vật chất và tinh thần cho mỗi con người.

Từ bếp dành cho người già đến hết cầu thang dành cho nam giới gọi là ''quản''. Đây là nơi dành riêng cho đàn ông, phụ nữ không được đến khu vực này, trừ một số trường hợp đặc biệt. Nơi đây có gian thờ tổ tiên - ''hỏng hóng'' và cột thiêng - ''sau hẹ''. Trên cột thiêng treo hình thần rùa bằng gỗ, ba bông lúa - ''sam huống khẩu'' và ba nhánh rau thì là - ''sam hóm si la''... Ngoài ý nghĩa có tính biểu tượng của tô tem giáo thì đây còn mang bóng dáng của thuyết thiên - địa - nhân.

Thiếu nữ Thái với những bộ trang phục truyền thống trong ngày hội.

Ngôi nhà sàn của người Thái vừa trang nhã, vừa chắc chắn: ''Nhà tốt dựng nơi cao ráo/nhà đẹp dựng giữa mường/gió to thổi không xiêu/bão lớn không lay động''.

Nhà sàn được trang trí nhiều hoa văn hoạ tiết tinh xảo trên bậu cửa sổ, trên các tấm ván hình răng cưa làm chấn song của sổ, ''khau cút'' của nhà sàn nhóm Thái Thanh đã trở thành tiêu chí về vẻ đẹp của ngôi nhà sàn người Thái cổ xưa.

''Khau cút'' là hai tấm ván đóng chéo nhau hình chữ X trên đòn nóc trước hết để chắn gió cho mái tranh hai đầu hồi nhà. Những gia đình quý tộc xưa còn làm thêm bông sen cách điệu ở giao điểm hai tấm ván và những hình trăng khuyết hướng vào nhau so le trên ''khau cút''.

Giải thích về biểu tượng ''khau cút'' có nhiều ý kiến khác nhau như: Đó là cặp sừng trâu cách điệu, biểu tượng của một nền văn minh lúa nước, hoặc đó là những búp cây guột có nhiều ở miền núi phía tây Nghệ An, hay gắn với cuộc thiên di tìm miền đất hứa của người Thái, anh em luôn nhớ về nhau... Dù có cách giải thích thế nào, thì khi bắt gặp hình ''khau cút'' trên nóc nhà sàn, là mỗi người Thái lại thêm ấm lòng, nhớ về anh em, bản mường yêu dấu.

Trên bậu cửa sổ thường chạm hình đôi thuồng luồng, linh vật làm chủ sông, suối, biểu tượng của sức mạnh và gia đình hạnh phúc. Trên các chấn song cửa sổ là các hoa văn, hoạ tiết mô phỏng thiên nhiên theo hình đối xứng hoặc lặp lại. Đó là những hình thoi như quả trám, hoa ban, búp cây guột...

Nhà sàn của nhóm Thái Mường - thường có lan can xung quanh hoặc trước nhà rất đẹp. Thiên nhiên được phản ánh một cách sống động, thể hiện tinh tế quan điểm về vũ trụ, âm dương ngũ hành và ý nghĩa nhân sinh cao đẹp.

Trải bao năm tháng, nghệ thuật trang trí của người Thái Nghệ An được gìn giữ và phát huy, góp phần làm nên một bản sắc văn hoá đặc thù. Ngày nay, nghệ thuật trang trí còn giúp cho đời sống của người Thái Nghệ An được cải thiện đáng kể.

Thổ cẩm đã trở thành hàng hoá thời mở cửa. Những sắc màu, những hoa văn, hoạ tiết được các cô gái Thái thổi hồn, ''sấp đôi bàn tay đã thành hoa văn, ngửa đôi bàn tay đã thành hoa lá'', giới thiệu với đồng bào cả nước và bè bạn năm châu.

Vi Hợi - Nguyễn Duy

10 March 2016

Top 20 làng nghề truyền thống nổi tiếng Việt Nam - Năm 2016 (P2)


Top 20 làng nghề truyền thống nổi tiếng Việt Nam - Năm 2016 (P2)

(Vietkings) - Các làng nghề truyền thống Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước với những sản phẩm vô cùng chất lượng và độc đáo. Sản phẩm của nghề truyền thống đã thể hiện rõ và bảo tồn được những nét, những sắc thái độc đáo của dân tộc.

Những giá trị văn hóa của dân tộc thể hiện tư duy của người Việt triết lý Á Đông, phong tục tập quán đặc sắc, truyền thống dân tộc, phong cách sống... đều được thể hiện qua nét vẽ, hình mẫu, cách trang trí và cấu trúc của sản phẩm. Dưới đây Vietkings chính thức công bố top 20 làng nghề truyền thống Việt Nam nổi tiếng hiện còn với những sản phẩm độc đáo và tinh xảo được nhiều du khách trong và ngoài nước yêu thích.

11. Làng nghề Kim hoàn Kế Môn (Thừa Thiên – Huế)


Làng Kế Môn thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế là làng nghề kim hoàng nổi tiếng hơn 300 năm nay. Vị tổ của làng nghề này là ông Cao Đình Độ, người làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, di cư vào làng Kế Môn vào cuối đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Đến đời vua Quang Trung, ông Độ được triệu vào cung lập Cơ vệ ngành ngân tượng chuyên làm đồ trang sức cho Hoàng gia. Đến đời vua Gia Long, Cao Đình Độ và Cao Đình Hương (con trai ông) vẫn được giữ lại làm ngân tượng cho đến khi mất (1810; 1821).

Sản phẩm kim hoàn ở Kế Môn nổi tiếng có chất lượng tốt so với nhiều nơi khác với kỹ thuật tay nghề tinh xảo và chạm khắc cầu kỳ được làm ra bởi những người thợ có kinh nghiệm, khéo tay và giàu khiếu thẩm mỹ sáng tạo, thể hiện rõ nhất là trên các đồ trang sức như vòng, kiềng, nhẫn, lắc, dây chuyền, khuyên tai bằng vàng hoặc bạc.

12. Làng nón Tây Hồ - Phú Vang (TT Huế)


Nón lá Tây Hồ nổi tiếng bởi độ mỏng, thanh, màu sắc nền nã và đường kim, mũi chỉ đều, đẹp nên người tiêu dùng rất yêu chuộng. Nón lá là vật trang sức làm duyên thêm nét đẹp của những thiếu nữ và là vật che nắng hữu hiệu của nhiều người. Người dân quê đi chợ, đi làm ruộng không thể thiếu chiếc nón lá đội đầu. Nón lá đã gắn bó với cuộc sống của người nông dân Tây Hồ một nắng hai sương trên đồng ruộng một cách tự nhiên và bền bỉ dù cuộc sống đã có nhiều đổi thay.

Không chỉ nổi tiếng với nón lá bài thơ, dân làng Tây Hồ còn rất khéo léo khi tạo ra những chiếc nón lá kè hai lớp bền, đẹp, đội mát.

13. Làng Đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng)


Làng đá mỹ nghệ Non Nước được hình thành từ thế kỷ 18 do ông Huỳnh Bá Quát mang nghề từ tỉnh Thanh Hóa vào khai thác. Mấy mươi năm sau, làng Quan Khái (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn) đều sinh sống và phát triển bằng nghề này. Những sản phẩm đá mỹ nghệ ở đây như: tượng Phật, tuợng Thánh, tượng người và muôn thú cũng như các loại vòng đeo tay, đeo cổ... đều được đẽo, tạc từ những khối đá cẩm thạch có vân rất đẹp được lấy từ Ngũ Hành Sơn. Từ đất đá vô cảm, người nghệ nhân làng mỹ nghệ Hòa Hải đã thổi vào đó tâm hồn của con người, để rồi những thứ quà tinh xảo thuộc cả mô típ truyền thống và hiện đại nơi đây theo chân du khách có mặt khắp nơi trên thế giới.

14. Làng Điêu khắc gỗ Kim Bồng (Hội An – Quảng Nam)


Kim Bồng là làng nghề chạm trỗ điêu khắc gỗ nổi tiếng từ xa xưa. Kim Bồng thuộc phường Cẩm Kim, thành phố Hội An. Nghề mộc ở đây có nguồn gốc xuất xứ từ miền Bắc, được các nghệ nhân mộc làng Kim Bồng học hỏi, phối hợp với nghệ thuật chạm khắc của người Chăm, Trung Hoa và Nhật Bản để tạo nên những tác phẩm điêu khắc gỗ mang tính mỹ thuật và triết học cao.

Sản phẩm điêu khắc gỗ của Kim Bồng đã hiện diện ở nhiều gia đình, nhiều địa phương trong nước và nhiều quốc gia ở 5 châu lục.

15. Làng nghề đúc đồng Phước Kiều (Quảng Nam)


Làng nghề đúc đồng Phước Kiều thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn. Người thợ đúc Phước Kiều tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm phục vụ cho việc tế lễ, hội hè và vật dụng sinh hoạt hàng ngày như : chuông đồng, chiêng, kiểng, mõ, phèng la, lư hương, chân đèn, bình cổ…và một số nhạc cụ bằng đồng.

16. Làng nghề gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận)


Làng nghề cổ truyền gốm Bàu Trúc là làng gốm cổ ở Đông Nam Á, tại thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, cách Phan Rang-Tháp Chàm khoảng 10 km về hướng Nam. Tại đây du khách có thể xem những nghệ nhân người Chăm trực tiếp thao tác làm ra những sản phẩm gốm bằng đôi bài tay khéo léo của mình, xem những bãi nung gốm lộ thiên và mua sắm sản phẩm gốm làm quà lưu niệm. Sản phẩm gốm rất độc đáo, được làm hoàn toàn bằng tay khéo léo cùng những công cụ thô sơ như vòng tre, vỏ sò để tạo ra những đường nét hoa văn trên sản phẩm gốm. Nghề làm gốm rất công phu, vật liệu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm gốm ở Bàu Trúc. Đó là một loại đất sét đặc biệt được lấy bên bờ sông Quao, đem về đó đập nhỏ và trộn với cát mịn nhào nhuyễn. Lượng cát được trộn vào tuỳ thuộc theo kích thước và công dụng của mỗi loại sản phẩm. Do đó gốm Bàu Trúc hoàn toàn khác so với gốm của những nơi khác.

17. Làng nghề thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp - Chung Mỹ (Ninh Thuận)


Rời làng gốm Bàu Trúc, đi về hướng Đông Nam khoảng 3 km, du khách sẽ đến thăm làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp-Chung Mỹ, người Chăm gọi là Chakleng. Nét độc đáo của làng nghề dệt là dệt theo dạng thủ công truyền thống, những sản phẩm thổ cẩm làm ra vẫn còn lưu giữ gần như nguyên vẹn trong từng công đoạn, bí quyết, chất liệu, hoa văn của thời xa xưa để lại. Đến đây, du khách sẽ được chứng kiến đôi bàn tay thuần thục của những người thợ, sự khéo léo của các nghệ nhân để làm nên sản phẩm thổ cẩm tuyệt đẹp. Trong những năm gần đây sản phẩm thổ cẩm Mỹ Nghiệp-Chung Mỹ ngày càng đa dạng và phong phú: ngoài chăn, áo, khăn người ta còn làm các loại khác như cà vạt, túi xách, bóp, ví… để phục vụ khách mua quà lưu niệm trong chuyến du lịch về Ninh Thuận.

18. Làng nghề gốm sứ Lái Thiêu (Bình Dương)


Bình Dương vốn nổi tiếng với nghề làm gốm. Các sản phẩm gốm sứ sản xuất ở đây đều mang những đặc điểm riêng biệt, bóng, bền, đẹp, mẫu mã phong phú được người tiêu dùng ưa chuộng. Nghề làm gốm sứ Sông Bé trước đây và Bình Dương ngày nay đã phát triển đến trình độ cao từ đồ gia dụng, đồ trang trí mỹ nghệ đến đồ sứ công nghiệp.

19. Làng Tranh sơn mài Tương Bình Hiệp (Bình Dương)


Nổi tiếng nhất ở làng tranh sơn mài Bình Dương là làng tranh Tương Bình Hiệp, nằm cách thành phố Thủ Dầu Một 7km về phía bắc. Đến đây, du khách sẽ được chứng kiến từng công đoạn của nghề truyền thống sơn mài chỉ có ở Việt Nam. Với hàng trăm hộ làm tranh sơn mài, có hộ chỉ làm một hai công đoạn của tấm tranh rồi giao lại cho các hộ khác làm những công đoạn tiếp theo.

Có thể nói ở Tương Bình Hiệp, nghề làm tranh sơn mài đã được công nghiệp hóa với những dây chuyền sản xuất rạch ròi nhưng hoàn toàn mang tính gia đình, tinh xảo nhẹ nhàng mang đậm phong cách Á Đông. Những sản phẩm tranh sơn mài Bình Dương được người yêu tranh Việt Nam và thế giới ưa chuộng mua về treo trong nhà một cách trang trọng.

20. Làng dệt thổ cẩm Châu Giang (An Giang)


Đây là làng nghề mang nét đẹp và chiều sâu văn hoá giàu bản sắc của thổ cẩm dân tộc Chăm. Thổ cẩm Châu Giang không những mang nét đẹp truyền thống của thổ cẩm mà còn mang nét đặc sắc của văn hoá Chăm với các đường nét lạ độc đáo với nhiều loại sản phẩm thổ cẩm đa dạng như: xàrông, khăn choàng, nón, áo khoác…

TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM

Top 20 làng nghề truyền thống nổi tiếng Việt Nam - Năm 2016 (P1)


Top 20 làng nghề truyền thống nổi tiếng Việt Nam - Năm 2016 (P1)

(Vietkings) - Các làng nghề truyền thống Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước với những sản phẩm vô cùng chất lượng và độc đáo. Sản phẩm của nghề truyền thống đã thể hiện rõ và bảo tồn được những nét, những sắc thái độc đáo của dân tộc.

Những giá trị văn hóa của dân tộc thể hiện tư duy của người Việt triết lý Á Đông, phong tục tập quán đặc sắc, truyền thống dân tộc, phong cách sống... đều được thể hiện qua nét vẽ, hình mẫu, cách trang trí và cấu trúc của sản phẩm. Dưới đây Vietkings chính thức công bố top 20 làng nghề truyền thống Việt Nam nổi tiếng hiện còn với những sản phẩm độc đáo và tinh xảo được nhiều du khách trong và ngoài nước yêu thích.

1. Làng Gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội)


Bát Tràng là làng gốm cổ truyền nổi tiếng nằm ở bờ Bắc sông Hồng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Từ Bạch Thổ phường, nơi những dòng họ đầu tiên từ Thanh Hóa, Ninh Bình, mà mở đầu là dòng họ Nguyễn Ninh Tràng đến sinh cơ lập nghiệp, trải qua hơn 500 năm lịch sử thăng trầm, các thế hệ nối tiếp đã gìn giữ, lưu truyền và làm nên danh tiếng của một làng nghề ở khắp trong và ngoài nước. Gốm Bát Tràng sản xuất từ loại đất sét trắng đặc biệt. Người thợ thủ công chỉ dùng tay để nắn nót sản phẩm làm ra, sau đó vẽ tranh, tráng men rồi đưa vào lò nung.

Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng tinh xảo, sắc nét với đủ kiểu đủ hình: chén, bát, lọ hoa, chậu, lư hương... không bị ngấm nước, không bị nhạt màu theo thời gian. Men Bát Tràng độc đáo, tinh tế với những bí quyết gia truyền làm nên nét đặc trưng riêng cho sản phẩm gốm sứ của làng. Và đó cũng chính là điều khiến khách tham quan phải trầm trồ khi có dịp ghé thăm.

2. Làng nghề khảm trai Chuôn Ngọ (Hà Nội)


Làng nghề khảm trai Chuôn Ngọ ở phía bắc Hà Tây (Hà Nội) là một làng nghề truyền thống có từ thời nhà Lý. Tổ của nghề này là ông Trương Công Thành, nguyên là một vị tướng tham gia trong đội quân của Lý Thường Kiệt, sau khi đánh tan quân Tống, ông về làng mở nghề khảm trai. Hiện nay ở làng còn đền thờ ông.

Nét nổi bật của tranh khảm trai Chuông Ngọ là những mảnh trai không vỡ, luôn phẳng, được gắn xuống gỗ khít, đẹp. Các mặt hàng chính của Chuông Ngọ là: tủ khảm, giường khảm… và những sản phẩm đơn giản như: bàn cờ tướng, tranh treo tường, đũa, khay… Gần đây, do nhu cầu của thị trường, nghề khảm trai ở đây đã phát triển mạnh để cung cấp hàng khắp trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.

3. Làng Lụa Vạn Phúc (Hà Đông – Hà Nội)


Mặc dù chỉ cách trung tâm thành phố Hà Nội chừng 10km nhưng ngôi làng bên dòng sông Nhuệ này vẫn giữ được những nét đặc trưng của một làng nghề truyền thống như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình. Bước chân tới cổng làng đã nghe thấy từng tiếng "lạch cạch” của những khung cửi phát ra từ những xưởng dệt.

Bà tổ nghề dệt lụa ở Vạn Phúc có tên là Lê Thị Nga, hiện trong làng còn có đền thờ bà. Lụa Vạn phúc nổi tiếng là "mịn mặt, mát tay”. Các mặt hàng lụa đa dạng: Lụa vân, Lụa the, Lụa xa, Lụa quế, Gấm…

Lụa Vạn Phúc không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới.

4. Làng tiện gỗ Nhị Khê (Hà Nội)


Trước đây, nghề tiện chỉ chuyên tiện đồ gỗ thờ tự, gia dụng như: đài nến, ống hương, bát nhang, đấu đong thóc, chân bàn ghế, tủ… Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, nghề tiện giờ đây còn tham gia vào sản xuất các mặt hàng gia dụng cao cấp như: mành rèm cửa, đệm ghế ngồi ô tô, đồ trang trí nội thất, nhà cửa… Để phù hợp với yêu cầu của thị trường, làng nghề còn chuyển sang tiện các loại sản phẩm từ nguyên liệu đá sừng… thành đồ trang sức, mỹ nghệ độc đáo và tinh xảo, cho giá trị kinh tế cao như: bình, lọ, hộp đựng tăm, gạt tàn thuốc lá, các con vật quý…

5. Làng gốm Thổ Hà (Bắc Giang)


Nghề gốm ở Thổ Hà phát triển rực rỡ từ thế kỉ 14. Đây là một trong ba trung tâm gốm sứ cổ xưa nhất của người Việt, bên cạnh Phù Lãng (Quế Võ, Bắc Ninh) và Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội). Thổ Hà mang những nét đặc sắc riêng hiếm có: độ sành cao, không thấm nước, tiếng kêu như chuông, màu men nâu đỏ mịn màng, ấm áp và gần gũi. Gốm có độ bền vĩnh cửu dù được chôn trong đất, ngâm trong nước. Làng chỉ làm đồ gốm gia dụng, những chum vại, tiểu sành, chĩnh chõ nổi tiếng một thời. Những mảnh gốm xưa còn sót lại trên các bức tường vẫn nguyên hình vẹn trạng, hồn gốm như còn đọng mãi.

6. Làng nghề đồ gỗ mĩ nghệ Đồng Kỵ (Bắc Ninh)


Làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ là một làng nghề nổi tiếng từ xa xưa. Đồng Kỵ nay thuộc xã Đồng Quang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cách thủ đô Hà Nội khoảng 20km về phía đông bắc. Làng nghề Đồng Kỵ cung cấp gần như đầy đủ các mặt hàng đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp cho sinh hoạt, trang trí nội thất hay thờ cúng… Những sản phẩm từ Đồng Kỵ đều được làm từ các loại gỗ quí như: gụ, trắc, hương, mun, nu, sưa…

Với thu nhập hàng trăm tỉ đồng/năm, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ đã tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động không chỉ của làng mà còn thu hút thợ của các nơi khác đến.

7. Làng Tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh)


Đông Hồ là một làng chuyên vẽ tranh dân gian nổi tiếng ở Việt Nam, Đông Hồ thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Nghề vẽ tranh dân gian ở đây đã có từ lâu đời. Xưa, làng chỉ vẽ tranh để bán trong dịp Tết Nguyên Đán nhưng nay, tranh dân gian Đông Hồ được vẽ cả những ngày thường để phục vụ khách du lịch. Nguyên liệu để vẽ tranh là giấy dó và màu là: gạch non, lá cây, rể cây đốt thành than. Muốn cho tranh có độ óng ánh người ta dùng vỏ sò, nghêu nung lên thành vôi, giả nhỏ, trộn với nhựa cây phết đều lên giấy dó sau đó bắt đầu vẽ. Tranh dân gian Đông Hồ có nhiều mảng: tranh động vật: chó, mèo, trâu, bò, gà, lợn..., mảng "hứng dừa; đám cưới chuột; đánh ghen” xem rất thích mắt. Hầu hết tranh Đông Hồ đều thể hiện ước vọng hòa bình, hạnh phúc, ấm no... cho nên thường được treo trong nhà trong những dịp Xuân về.

8. Làng Gốm Chu Đậu (Hải Dương)


Làng nghề gốm Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, Huyện Nam Sách đã nổi tiếng trên thế giới từ hơn 500 năm nay. Các sản phẩm gốm Chu Đậu đang được lưu giữ tại nhiều bảo tàng quốc gia trên thế giới như Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Bỉ, Nhật Bản, Hà Lan… và trong sưu tập cá nhân của nhiều nước trên thế giới. Một trong những điểm nổi bật của gốm Chu Đậu là các đường nét hoa văn. Hoa văn cổ của Chu Đậu phần nhiều là sen, cúc, dưới nhiều dạng khác nhau và hàng chục loại hoa văn cách điệu khác.

9. Nghề thêu ren Văn Lâm (Ninh Bình)


Ở Văn Lâm hiện nay, có rất nhiều gia đình trang bị các loại khung thêu, với nhiều kích cỡ khác nhau. Dưới bàn tay tài hoa của người thợ thêu, qua những sợi chỉ mảnh mai, nhiều màu sắc trên nền vải được chọn, những tác phẩm nghệ thuật tinh tế đã ra đời. Đường nét thêu ren rất tinh xảo, uyển chuyển, mềm mại, thanh tú nhưng lại sống động mịn màng như nét vẽ của người họa sĩ. Sản phẩm thêu ren rất phong phú như: ga trải giường, rèm cửa, gối, khăn bàn, khăn tay, tranh, ảnh....

10. Làng Chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình)


Là làng chạm khắc kim loại quý thuộc xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương. Người khởi nghiệp là nghệ nhân chạm bạc Nguyễn Kim Lâu. Ông đã tới và truyền dạy nghề cho người dân Đồng Xâm cách nay hơn 300 năm. Hiện nghề chạm khắc kim loại quý tại làng ngày càng phát triển và được nhiều người biết đến.

TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM


 

Kết mối với chúng tôi

Người xem

Liên hệ

Name

Email *

Message *

Video lưu trữ

Đăng ký cập nhật bài mới