Gốm sứ mỹ nghệ việt nam trên thi trường thế giới

Dù muốn hay không, các làng nghề gốm cũng đang ở trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thị trường của sản phẩm gốm sứ hiện nay là thị trường rộng lớn của 150 nước thành viên của WTO và khách hàng tiềm năng có thể thuộc hàng trăm dân tộc và nền văn hóa khác nhau.

Phố đàn Nguyễn Thiện Thuật- Làng đờn quận 4.

Ở Tp.HCM có một con đường được nhiều người gọi là phố đàn, đó là con đường Nguyễn Thiện Thuật nằm trên địa bàn quận 3. Những cửa hàng này có cái thâm niên đã mấy chục năm, nhưng có cái cũng chỉ mới mở vài ba năm với những cái tên như: Dung đàn, Guitar gỗ, Ngọc Hồ, Bình Guitar...

Doanh nhân Nguyễn Thị Đẹp - Người thổi "Hồn" cho hoa

Bước vào không gian trưng bày các sản phẩm thủ công của doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh, bất cứ ai cũng sẽ có cảm giác như lạc vào thế giới sắc màu với những sản phẩm nghệ thuật độc đáo từ hoa khô.Những vật liệu tự nhiên dưới bàn tay khéo léo của người thợ lành nghề, đã hình thành nên các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc như: bông hoa, giỏ hoa, quả cầu thủ công

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hữu Hạnh: Những bức tranh thêu gây hai niềm rung cảm

Ai là con gái Đà Lạt ít nhiều cũng biết đan móc, thêu thùa, vá may; chị Nguyễn Thị Hữu Hạnh cũng vậy, từ nhỏ đã quen thuộc với đường kim mũi chỉ trên những chiếc khăn. Được mẹ khen khéo tay, thêu đẹp, chị thêm thích thú với công việc.

Làng nghề gốm người Khmer Nam bộ

Điểm đặc sắc trong làng nghề gốm Tri Tôn là không dùng bàn xoay hoặc ứng dụng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào. Đơn thuần chỉ bằng tay với kinh nghiệm mang tính bẩm sinh.

31 August 2015

Ngày của một nghề: Độc đáo nghề làm khám thờ ở đảo Phú Quý


Ông Đỗ Phiêu.

Bình dân hóa rồng, phượng

Nhân vật của tôi là ông Đỗ Phiêu, ông chất phác đến mức, ngồi nói thao thao bất tuyệt về cái nghề của mình mà quên mất mục đích buổi trò chuyện. Đến khi tôi hỏi tên ông, ông ngơ ngác hỏi lại: “Tui tên Đỗ Phiêu, à mà sao hỏi tên tui thế?”. Tôi đã phải nhắc lại rằng, ông đang là nhân vật của mình, ông phá lên cười: “Ừ nhỉ! Nhớ rồi. Vậy mà nãy giờ tui vẫn còn tưởng cô đến đây để học nghề. Muốn học không, tui chỉ cho! Tui thèm có người đến học nghề quá”. Nói rồi, ông tự nhếu mình già cả, lẩm cẩm: “72 tuổi rồi nên lẩm cẩm thế đấy”. Tôi vẫn thấy ông còn minh mẫn, dẻo dai lắm. Vừa trò chuyện với tôi, ông vừa sơn nốt hình cái vây con rồng trên tấm mày bộ khám thờ. Ánh mắt ông say mê thích thú. Đôi tay cầm cọ nâng lên, hạ xuống mềm mại, “luyến láy” theo những đường cong, theo những nét đậm nhạt của mình rồng, trông ông thanh thản chẳng khác gì một ông đồ đang viết thư pháp.

Ông Phiêu kể rằng, muôn đời nay, những cuộc mưu sinh miệt mài của người dân trên đảo Phú Quý luôn gắn liền với biển cả, với cá tôm. Biển cũng như con người với đủ nét tính cách, khi hiền lành, khi giận dữ, khi êm ả ngọt ngào, khi lại nổi cơn tam bành, gào thét. Gắn bó với biển, người dân nhỏ bé, tội nghiệp chỉ biết phó thác vào sự buồn vui của thiên nhiên. Bởi vậy, trước mỗi lần đi ra biển đánh bắt, nhất là trước những chuyến đánh bắt xa bờ, người dân lại khấn vái tổ tiên, xin được phù hộ thuận buồm xuôi gió. Bàn thờ gia tiên vừa nhắc nhớ họ về cái gốc gác của mình, vừa là nơi tâm linh, thiêng liêng nhất trong một gia đình. Bằng giá nào, mỗi gian thờ trong ngôi nhà dân đảo Phú Quý nhất thiết phải có bộ khám.

Khám thờ ở Phú Quý đầy đủ thường được gọi là khám thờ kép. Ở phía mặt trước và trên cùng gọi là tấm mày. Mày được khắc 2 con rồng đối xứng nhau. Bên dưới mày là chân quỳ, chạm khắc bộ tứ quý mai, lan, cúc, trúc cách điệu, tượng trưng cho sự tươi đẹp, hòa thuận của thiên nhiên trong 4 mùa. Hai trụ long đăng ở hai bên, tượng trưng cho 2 cột nhà. Từ trên xuống dưới của long đăng, chạm trổ hình rồng, phượng ôm lấy thân trụ. Phần ngoài cùng hai bên gọi là cánh quạt, người ta chạm trổ các hình ảnh, hoa văn của 4 con vật tứ linh: Long, lân, quy, phụng.

Con rồng ông Phiêu đang sơn vẽ có nét hiền lành, bình dân chứ không quyền uy như hình tượng và quan niệm vốn có của nó. Tôi có cảm nhận bộ khám thờ của người dân đảo Phú Quý chứa đầy hình tượng của những con sóng. Có lẽ, họ ưa sự mềm mại, ưa những đường cong. Thậm chí, đến rồng, phượng như được các nghệ nhân cách điệu làm cho mềm mại, hiền lành đi, trở nên gần gũi với cuộc sống thường ngày của họ. Ông Đỗ Phiêu vừa miệt mài sơn vẽ hình rồng trên tấm mày khám, vừa gật đầu đồng ý với cảm nhận của tôi: “Đúng rồi, dân xứ tui thích rồng phượng trên bàn thờ gia tiên phải bình dân, nhưng cũng phải sinh động nữa”.

Hình ảnh rồng phượng trên khám thờ của người dân đảo Phú Quý chứa đầy màu sắc sôi nổi, xanh có, hồng có, vàng có, tím cũng có…

Ông Phiêu giải thích, người đảo Phú Quý gốc gác đa số là người miền Trung. Cuộc sống biền biệt với đất liền khiến việc giữ lại hình ảnh chiếc khám thờ như nguyên gốc quê mình trở nên khó khăn. Sống lâu đời trên đảo, họ đã hình thành những thứ rất riêng, rất Phú Quý. Cũng như giọng nói đặc trưng, pha trộn của nhiều tỉnh thành, chiếc khám thờ với hình ảnh rồng, phượng như hiện nay là kết quả của những sự pha trộn, góp ý lâu đời. Đến nỗi dù là dân Phú Quý gốc Phú Yên hay gốc Bình Định, gốc Ninh Thuận hay gốc Quảng Ngãi, Quảng Nam… đều thấy chiếc khám ấy quen thuộc, có nét gần gũi với gốc gác của mình.

Nghệ nhân “đơn độc”

Kể về lý do vì sao gắn bó với nghề làm khám thờ, ông Đỗ Phiêu lại cười thật thà: “Hồi đó, dân Phú Quý sống bằng nghề đi biển là chính. Nhưng đi biển cần phải có sức khỏe, sự dẻo dai. Hồi thiếu niên, tui đã thấy sức khỏe mình yếu, khó có thể gắn bó với nghề đi biển được. Khi đó, ông nội và ba tui đều đi làm thợ cho xưởng làm khám thờ. Tui cũng xin theo phụ kiếm tiền. Công việc ban đầu chỉ là làm công ăn lương, nhưng sau này tui lại thích và gắn bó với nghề. Gắn bó đến tận bây giờ”.

Sau giải phóng, ông Phiêu tự đứng ra mở xưởng làm khám thờ. Cùng với những người thanh niên trong xã. Ông miệt mài làm khám thờ theo sự đặt hàng của người dân. Với sự giúp sức của họ, cứ khoảng 2 tháng, ông làm xong một bộ khám. Sau này, nhiều thanh niên mải miết với công việc đi biển, có người lại về Phan Thiết làm ăn. Còn lại có một mình nên mỗi năm ông cũng chỉ dám nhận một hai bộ khám về làm.

Ông Phiêu bảo rằng, nghề làm khám không mất nhiều sức lực, nhưng đòi hỏi sự kỹ lưỡng, cẩn thận và một chút khéo léo, tài hoa. Để thực hiện một bộ khám phải trải qua rất nhiều công đoạn tỉ mỉ, nhưng có thể tóm tắt ở 3 công đoạn chính: Chuốt gỗ đục chạm và cuối cùng là sơn vẽ. Gỗ làm khám phải là gỗ tốt, có độ cứng, chắc chắn. Gỗ lõi mang về bào, đục mộng, rồi dùng giấy nhám, đánh cho bề mặt gỗ trở nên láng mịn, vuông vức.

Sau đó, người thợ sẽ phác thảo những đường nét hoạ tiết bằng bút chì trên bề mặt gỗ, đục chạm theo đường nét. Chiếc khám có đẹp hay không được quyết định rất nhiều ở công đoạn này. Bàn tay người thợ quyết định đường nét theo độ nông sâu của từng chi tiết. Cuối cùng là sơn vẽ. Công đoạn này không có một công thức nào, mà hoàn toàn dựa theo sự khéo léo, cảm nhận màu sắc của người vẽ.

Nhớ hồi còn “đi làm công ăn lương”, ông Đỗ Phiêu cũng phải mất đến 9 năm để học đục chạm. Học từ khi còn là một cậu thiếu niên đến khi… lấy vợ mới học xong. Còn sơn vẽ thì cứ theo cảm nhận của riêng mình, vì “chắc là tui cũng có năng khiếu vẽ vời đôi chút”. Ông bảo, chỉ riêng một cái râu con rồng thôi, cũng một màu đen, nhưng không phải cứ quết màu lên mà thành. Sơn vẽ sao cho đầu cọ tạo nên những vệt màu duyên dáng, để “cặp râu phải ra hồn vía của cặp râu”.

Công đoạn sơn vẽ này cũng bén duyên từng người. Có người học mãi không xong, không vẽ được. Có người chỉ mới quan sát đôi lần đã có thể tô vẽ được trên khám gỗ. Con trai ông là một ví dụ: “Hắn nhìn tui đôi lần đã xin làm thử. Trông thấy hắn vẽ, tui giật mình, không hiểu vì sao hắn vẽ đẹp vậy”.

Từ đó trở đi, con trai trở thành phụ tá đắc lực giúp ông rất nhiều ở công đoạn sơn vẽ. Mãi đến 2 năm nay, con trai đi học tận Phan Thiết, nhiều lúc, ông vẫn thường gửi tàu những chi tiết trên khám ra cho con trai vẽ giúp.

Ông bảo rằng, không phải mình mệt mỏi đến mức phải gửi khám ra tận Phan Thiết nhờ con trai sơn vẽ giúp. Lý do là vì ông cảm thấy mình “cứ đơn độc thế nào”. Một mình làm bao nhiêu công đoạn, rồi khi tác phẩm sắp thành công, ông muốn có ai đó góp ý với ông, có ai đó thẩm định giúp ông đẹp - xấu thế nào. Điều sâu xa hơn, ông muốn có một sợi dây gắn kết để truyền nghề cho con trai. Ông sợ “thằng ku ham học quên nghề”. Ông sợ nghề mà ông bỏ cả đời đeo đuổi sẽ mai một đi mất.

Ở cái tuổi của mình, ông vẫn cố làm mỗi năm một hai cái khám, cốt là “cho có cái nghề”. Hơn nữa là để “đợi thằng con về nối nghiệp. Nó học cao, học rộng thì chẳng còn mê nghề của tui nữa. Tui chẳng dám khuyên, chỉ có ý nhắc nhớ nó. Chỉ cần nó còn cùng tui làm nghề đến khi nào tui kiếm được người đến xin học việc”. Nhưng ông bảo chắc khó, giờ ông đã 72 rồi, “sắp về trời rồi”.

Ông nói câu ấy, giữa cái nắng chang chang ở đảo Phú Quý, giữa làn gió mang hơi biển mặn mòi rin rít da thịt, dường như tôi thấy giọt nước lóng lánh trong đôi mắt người nghệ nhân già. Ông phẩy tay, cố gượng cười: “Chao ôi! tui lẩm cẩm rồi, lẩm cẩm thật rồi”.

KHƯƠNG QUỲNH


Chiêm ngưỡng đồng hồ, cá chép, gương… từ bàn tay của những "tài hoa nghề mộc”


Ban tổ chức bất ngờ, người dân và du khách thì trầm trồ khen ngợi. Đó là sự thành công ban đầu cho cuộc thi “ tài hoa nghề mộc”, một hoạt động nằm trong sự kiện giao lưu văn hóa Hội An- Nhật Bản lần thứ 13.


Sau 2 ngày kiên trì thực hiện, các nghệ nhân nghề mộc tại Quảng Nam đã tac nên nhiều tác phẩm mang đậm chất nghệ thuật và thẩm mỹ. Đó chính là những thành công bước đầu, dù cuộc thi vẫn chưa công bố kết quả cuối cùng. Tuy nhiên, khi những sản phẩm này được trưng bày tại gian hàng hội thi “ tài hoa nghề mộc” sáng nay 30.8, cũng là lúc ghi nhận hiệu ứng từ người dân và du khách rất rõ nét. Đó là những lời khen tích cực, tôn vinh và hồi tưởng lại một nghề truyền thống của người dân Quảng Nam trước đây.

Bà Nguyễn Thị Vân- Trưởng phòng kinh tế Hội An không giấu được cảm xúc, cho biết:” Tôi đưa ra cuộc thi lần này nhưng cũng không thể tưởng tượng được cảm xúc của mình lúc này. Quá tuyệt vời”.

Cũng theo bà Vân, những nghệ nhân tham dự cuộc thi đã dốc hết sức mình, họ ngồi dưới gốc cây ven đường bên bờ sông Hoài, kiên trì đẽo đục gần 2 ngày liền. Chính những nhiệt huyết của tuổi trẻ và tâm huyết của người nghệ nhân là phục hồi và phát triển nghề mộc truyền thống, họ đã tạo nên những sản phẩm rất tuyệt vời.

Được biết, trong đêm nay, sự kiện giao lưu văn hóa Hội An- Nhật Bản sẽ bế mạc, cùng với đó là lễ công bố và trao thưởng cuộc thi “ tài hoa nghề mộc”. Những sản phẩm của cuộc thi sẽ được trưng bày, triễn lãm trong nhiều cuộc thi, hội chợ trong nước và quốc tế sau này.

















30 August 2015

Phát triển làng nghề truyền thống trong thời kỳ hội nhập (Tiếp theo và hết)


Làng nghề tre trúc Xuân Lai (xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 400 đến 500 lao động.

Bài 2: Chung tay phát triển các làng nghề

Để giải quyết khó khăn, giúp các làng nghề phát triển trong thời kỳ hội nhập, cần có những giải pháp hiệu quả xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường cũng như bảo đảm đầu ra cho sản phẩm. Bên cạnh đó, các bộ, ngành chức năng, các địa phương cần có sự phân cấp quản lý rõ ràng, tránh chồng chéo trong quản lý nhà nước ở địa phương…


Bảo đảm thị trường tiêu thụ sản phẩm

Sản phẩm của làng nghề truyền thống đã và đang được người tiêu dùng chấp nhận nhưng chưa có sức lan tỏa do giá thành cao, mẫu mã sản phẩm chưa đa dạng, chưa theo kịp thị hiếu người tiêu dùng cả trong và ngoài nước là một thực tế khiến cho hàng Việt truyền thống chưa thể đến nhiều với những thị trường khó tính nhưng đầy tiềm năng như: Anh, Mỹ, Pháp và Đức. Chính vì vậy, chủ trương hiện đại hóa công nghệ trong các làng nghề sao cho vừa bảo đảm tính nguyên tác, nhưng sản phẩm làm ra không mất đi tính truyền thống, tính độc đáo, độ tinh xảo, vừa đẩy mạnh được việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm làng nghề; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cho các làng nghề như đào tạo về kiến thức quản lý, về khởi sự doanh nghiệp; hỗ trợ các nghệ nhân, thợ lành nghề đào tạo truyền nghề trực tiếp tại cơ sở, đã trở thành đòi hỏi cấp bách đối với hầu hết các làng nghề truyền thống.

Làng nghề trúc Xuân Lai, xã Xuân Lai, huyện Gia Bình (Bắc Ninh), là một trong những làng nghề đi đầu trong đầu tư, cải tiến mẫu mã sản phẩm hợp với thị hiếu khách hàng. Trưởng thôn Xuân Lai Nguyễn Đình Nam chia sẻ: “Khoảng 25 năm nay, nghề tre, trúc phát triển mạnh. Các sản phẩm như tranh tre, bàn, ghế, xích đu, giường, tủ, kệ sách, khung nhà tre… của thôn đã được nhiều khách hàng trong và ngoài nước biết đến. Hiện nay, thôn có 840 hộ thì khoảng 30% số gia đình tham gia làm nghề, trong đó có 45 xưởng sản xuất với thu nhập khoảng 150 đến 200 nghìn đồng/người/ngày.

Phó Giám đốc Công ty cổ phần Giải Pháp Xuân Lai Lê Văn Xuyên chia sẻ: “Hiện nay, mỗi năm công ty có doanh thu đạt khoảng ba tỷ đồng. Để chủ động trong việc sản xuất, kinh doanh, công ty đã thực hiện việc quảng bá thương hiệu sản phẩm qua các kênh khác nhau, vì vậy các sản phẩm như bàn, ghế, giường, tủ… đã được nhiều khách hàng biết đến. Ngoài việc tìm hiểu thị trường, công ty chúng tôi cũng luôn thay đổi mẫu mã, chất lượng sản phẩm đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng”.

Trên thực tế, làng nghề trúc Xuân Lai chỉ là một trong số không nhiều làng nghề xây dựng được thương hiệu và tìm được một hướng đi đúng trong phát triển nghề truyền thống. Hiện Bắc Ninh có 62 làng nghề, trong đó có 30 làng nghề truyền thống như: tái chế giấy Phong Khê, sản xuất rượu Đại Lâm, đúc nhôm chì Văn Môn, sản xuất sắt thép tái chế Đa Hội, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái, làm bún Khắc Niệm... vẫn rơi vào cảnh “chợ chiều”.

Lý giải tình trạng nêu trên, lãnh đạo Sở Công thương tỉnh Bắc Ninh khẳng định, do quy mô sản xuất của các làng nghề hầu hết là nhỏ lẻ, cả làng cùng sản xuất ra những sản phẩm giống nhau từ dây chuyền công nghệ thủ công và lạc hậu cho nên không chỉ tiêu tốn nhiều nguyên, nhiên liệu mà còn khiến người tiêu dùng không hứng thú với các sản phẩm hiện có.

Khắc phục sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ

Theo Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Lưu Duy Dần, để các làng nghề truyền thống phát triển, cần thống nhất giao nhiệm vụ chủ trì quản lý nhà nước về lĩnh vực nghề và làng nghề cả nước, tránh tình trạng chồng chéo như hiện nay. Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các nghề và làng nghề truyền thống phát triển bền vững, như tiếp cận nguồn vốn tín dụng, giảm các thủ tục hành chính, tăng cường cho vay tín chấp, giảm lãi suất; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là trong việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề tháo gỡ những chính sách không phù hợp trong tiếp cận nguồn vốn, tạo động lực thúc đẩy các nhà khoa học, công nghệ trong việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào làng nghề. Có chính sách khuyến khích các làng nghề đưa hàng về các vùng nông thôn, miền núi, mở rộng thị trường nội địa; các làng nghề cần mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, trước hết tại các địa điểm nổi tiếng; củng cố cơ sở vật chất, tổ chức việc quảng bá, đào tạo hướng dẫn viên (nên sử dụng một số nghệ nhân), khắc phục các tệ nạn gây phản cảm cho khách du lịch.

Sản phẩm là yếu tố mang tính sống còn của các làng nghề, do vậy cần tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã và hình thức đẹp mắt, thu hút được người tiêu dùng. Để làm được điều đó, các làng nghề cần thường xuyên đầu tư hiện đại hóa công nghệ, cải tiến đổi mới phương pháp sản xuất, trau dồi tay nghề cho người lao động; tăng cường đào tạo nghề, cải tiến phương thức đào tạo, chuyển giao thêm cho các tổ chức xã hội thực hiện để đạt hiệu quả thiết thực hơn, người lao động sau khi được đào tạo có thể làm việc được ngay, không phải đào tạo lại; chú trọng phát huy các nghệ nhân vào giảng dạy tại các trường, lớp; hỗ trợ đào tạo các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các làng nghề; tuyên truyền rộng rãi để các cơ sở làng nghề, có thông tin, hiểu rõ, nắm chắc các quy định về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), từ đó chủ động chuẩn bị các giải pháp khi gia nhập và cũng là để các cơ quan nhà nước nắm chắc các quy định, tạo thuận lợi cho các cơ sở. Tập trung xử lý những cơ sở ô nhiễm nặng, tại những vùng rộng, những dòng sông liên quan nhiều địa phương, đồng thời có chính sách giúp đỡ cho các cơ sở tự xử lý dứt điểm ô nhiễm tại chỗ; di chuyển các cơ sở ô nhiễm...

Thực hiện tốt chương trình phát triển mỗi làng một nghề

Năm 2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng “Chương trình phát triển mỗi làng một nghề, giai đoạn 2006-2015” với mục tiêu đưa mức tăng trưởng ngành nghề nông thôn đạt 15%/năm, thu hút khoảng 300 nghìn lao động mỗi năm làm việc tại các làng nghề... Đây được xem là một trong những giải pháp quan trọng cho nhiều làng nghề truyền thống trên cả nước vượt qua khó khăn để tồn tại. Trên thực tế, mô hình này đã, đang mang lại những kết quả nhất định trong vực dậy nhiều làng nghề truyền thống.

Làng nghề dệt lụa Mã Châu, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) sau hàng chục năm thăng trầm, giờ đây đang bắt đầu hồi sinh. Với lịch sử khoảng 500 năm, sản phẩm lụa Mã Châu không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu đi các nước khác. Thế nhưng, vào những năm 90 của thế kỷ trước, do thị trường xuất khẩu sang các nước Ðông Âu, Liên Xô biến động; sản phẩm làm ra không tiêu thụ được cho nên phần lớn bà còn đành phải “treo” khung dệt. Những năm gần đây, do thị trường xuất khẩu vải bắt đầu phục hồi, lại được chính quyền địa phương quan tâm, hỗ trợ nên làng nghề Mã Châu từng bước được khôi phục. Từ năm 2009, HTX tơ lụa Mã Châu ra đời, thật sự mở ra một thời kỳ mới cho lụa Mã Châu.

Trao đổi ý kiến với chúng tôi, ông Trần Hữu Phương, Phó Giám đốc phụ trách HTX cho biết, dù còn nhiều khó khăn, nhưng sau một thời gian củng cố, đến nay, HTX đã xây dựng được chiến lược phát triển lâu dài, đó là trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, hoàn thành sản phẩm, xây dựng hệ thống bán lẻ và kết nối du lịch. Năm 2014, HTX sản xuất hơn 14 nghìn sản phẩm lụa các loại, với doanh thu gần bốn tỷ đồng. Nhờ duy trì được sản xuất, HTX đã tạo việc làm thường xuyên cho gần 40 lao động, với thu nhập bình quân bốn triệu đồng/người/tháng. Gần đây, để gắn sản xuất với phát triển du lịch làng nghề, ngoài việc nâng cấp lại điểm giới thiệu, quảng bá sản phẩm tại thị trấn Nam Phước, HTX đã đầu tư xây dựng cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại khu phố cổ Hội An vào hoạt động phục vụ du khách trong và ngoài nước. Hiện nay, làng dệt Mã Châu có khoảng 400 hộ dân gắn bó với nghề dệt nhưng chỉ có HTX Tơ lụa Mã Châu còn giữ được dệt lụa tơ tằm nguyên thủy.

Dù mô hình mỗi làng một nghề đã khẳng định tính ưu việt trong thời kinh tế thị trường, nhưng mô hình này cũng đang gặp phải không ít khó khăn về cơ chế, chính sách; thị trường tiêu thụ sản phẩm; hệ thống mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm và bao bì do chưa có đổi mới; sản xuất kinh doanh còn nhỏ lẻ…

Hiện nay số làng nghề và làng có nghề ở nước ta là 5.096. Số làng nghề truyền thống được công nhận là 1.839, thu hút khoảng 10 triệu lao động. Có nhiều làng nghề tồn tại hàng trăm năm, trở thành những làng nghề tiêu biểu, được cả nước và thế giới biết đến như lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng, Chu Đậu, gốm Bầu Trúc, gỗ Sơn Đồng, Ý Yên… Song điều đáng nói, hầu hết các làng nghề truyền thống đều rơi vào cảnh “chợ chiều” do gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ.

(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

BÀI VÀ ẢNH: HÙNG SƠN, MINH HUỆ VÀ NGUYÊN SƠN



Phát triển làng nghề truyền thống trong thời kỳ hội nhập (Kỳ 1)


Công nhân cơ sở sản xuất gốm Nhung (xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) hoàn thiện sản phẩm.

Hiện nay, cả nước có hàng nghìn làng nghề truyền thống, góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động nông thôn, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Tuy nhiên, các làng nghề đang gặp không ít khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm, trong đào tạo để giữ nghề và tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng...

Bài 1: Đối mặt khó khăn

Làm thế nào để tồn tại và phát triển trong thời kỳ hội nhập không chỉ là bài toán đặt ra đối với các làng nghề truyền thống mà còn của cả nền kinh tế khi ngày càng có thêm nhiều hiệp định thương mại được Chính phủ Việt Nam ký kết với các đối tác nước ngoài. Thực tế này buộc các làng nghề truyền thống tìm các giải pháp khắc phục khó khăn về ô nhiễm môi trường, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm…

Sống chung với ô nhiễm

Để mở rộng sản xuất, gia đình ông Nguyễn Văn Sử, xã Hòa Bình, huyện Thường Tín (Hà Nội) đầu tư 400 đến 500 triệu đồng mua các thiết bị máy móc cho cơ sở sản xuất các mặt hàng từ sừng trâu. Mỗi tháng ông phải bỏ ra hơn 100 triệu đồng mua nguyên liệu sừng trâu tại các lò mổ trong vùng để sản xuất các mặt hàng như lược, vòng trang sức,… thu nhập bình quân hơn 200 triệu đồng/tháng.

Điều đáng nói là sản phẩm do gia đình ông Sử làm ra chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước (60%), một số xuất sang Trung Quốc (hơn 30%), còn lại một phần rất nhỏ xuất sang một số nước châu Âu. Ông Sử chia sẻ: “Mặc dù sản xuất cho thu nhập ổn định nhưng cơ sở sản xuất của tôi cũng như nhiều hộ khác cũng chỉ xử lý ô nhiễm bằng những kinh nghiệm chứ không có các biện pháp khoa học để có thể xử lý triệt để”.

Được biết gia đình ông Sử đã đầu tư 20 đến 30 triệu đồng mua các thiết bị như quạt thông gió, hệ thống phun sương để giảm ô nhiễm. Nhưng khi bước chân vào xưởng sản xuất, bụi bốc lên tựa làn khói, phủ trắng các vật dụng, máy móc. Mặc dù đã trang bị quần áo, mũ, khẩu trang và kính chống bụi, nhưng về lâu dài, những trang bị bảo hộ thô sơ này vẫn không thể bảo đảm sức khỏe cho người lao động và mối lo về bệnh hô hấp, bệnh phổi không phải là không thể xảy ra.

Không chỉ cơ sở sản xuất lớn như của gia đình ông Sử chấp nhận sống chung với bụi, khí độc và tiếng ồn mà những cơ sở sản xuất nhỏ cũng không là ngoại lệ. Sự ô nhiễm gần như tỷ lệ thuận với quy mô cơ sở sản xuất, nghĩa là nơi quy mô sản xuất lớn thì ô nhiễm lớn và quy mô nhỏ thì ô nhiễm ở mức thấp hơn.

Điển hình như xưởng phun sơn cho các mặt hàng gỗ của gia đình ông Nguyễn Phúc Sơn, nằm ngay phía sau của Trường tiểu học xã Vạn Điểm (huyện Thường Tín, TP Hà Nội), khiến cho hàng trăm em học sinh cùng giáo viên trong trường hằng ngày phải chịu mùi sơn độc hại. Mặc dù đã có nhiều ý kiến phản ánh của phụ huynh, học sinh và các giáo viên trong trường đến chính quyền xã nhưng sự ô nhiễm của cơ sở sản xuất Phúc Sơn vẫn chưa được giải quyết. Theo lãnh đạo xã, việc chậm trễ này là do đề án quy hoạch lại làng nghề của xã vẫn còn nhiều vướng mắc về quỹ đất cho nên chưa thể triển khai.

Trao đổi về tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề truyền thống, ông Nguyễn Thanh Dũng, Phó Trưởng phòng Ngành nghề nông thôn (Cục Chế biến nông, lâm, thủy sản và nghề muối) khẳng định, do sự phát triển tự phát và sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu, hệ thống nước thải không được đầu tư, đã xả thải trực tiếp ra môi trường dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Chưa kể việc xuất hiện nhóm nghề tái chế chất thải ở nhiều địa phương đã làm gia tăng mức độ gây ô nhiễm môi trường. Và tình trạng ô nhiễm môi trường càng trở nên trầm trọng ở một số khu vực sản xuất tập trung như làng nghề tái chế giấy Dương Ổ (Bắc Ninh); tái chế nhựa Minh Khai (Hưng Yên); chế biến thực phẩm Dương Liễu (Hà Nội); kim khí Vân Tràng (Nam Định); nhuộm vải sợi ở Phương La (Thái Bình)…

Qua thống kê, có 54% tổng số hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn có tác động xấu tới môi trường, gây ô nhiễm không khí, nguồn nước và đất đai. Trong khi đó, chi phí cho việc khắc phục ô nhiễm làng nghề với kỹ thuật sản xuất thủ công, cơ khí lạc hậu và trình độ khoa học công nghệ trong nước hiện nay là khá tốn kém, làm tăng giá thành và giảm khả năng cạnh tranh. Do vậy, bảo vệ môi trường làng nghề là việc làm khó khăn, đòi hỏi sự tham gia tích cực của cộng đồng và cơ quan quản lý các cấp. Nếu các biện pháp triển khai không đồng bộ thì khó đạt kết quả.

Bị động với thị trường

Hiện nay, phần lớn các làng nghề chậm thay đổi về mô hình, chủ yếu là kinh doanh hộ, mô hình doanh nghiệp và hợp tác xã (HTX) còn ít. Đó là nguyên nhân cơ bản khiến làng nghề vẫn manh mún, nhỏ lẻ, chưa thể phát triển mạnh, vì kinh doanh hộ khó tiếp cận với vốn vay, công nghệ, thị trường… Còn theo lãnh đạo Cục Chế biến nông, lâm, sản và nghề muối, thị trường tiêu thụ sản phẩm ngành nghề nông thôn có tiềm năng lớn nếu biết nắm bắt và phát huy những thuận lợi. Tuy nhiên, trước mắt vẫn tồn tại nhiều khó khăn, đó là sự cạnh tranh của những mặt hàng cùng loại được sản xuất bằng công nghệ hiện đại từ các nước trong khu vực. Việc đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng trong các hợp đồng xuất khẩu với những yêu cầu lớn về số lượng, chủng loại và yêu cầu nghiêm ngặt về thời gian giao hàng, hiện đang là khó khăn đối với các doanh nghiệp, các làng nghề nông thôn. Bên cạnh đó, do thiếu thông tin về thị trường cho nên việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ nước ta còn phát triển chậm. Đa số sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ ở làng nghề vẫn sản xuất theo mẫu cũ, ít được cải tiến, sáng tạo mới. Một số làng nghề chỉ chuyên sản xuất theo mẫu đặt hàng có sẵn của khách hàng. Việc đăng ký thương hiệu hàng hóa và kiểu dáng sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh chưa được quan tâm đầu tư, hỗ trợ.

Chúng tôi tới thăm cơ sở sản xuất gốm của ông Vũ Hữu Nhung ở làng nghề gốm Phù Lãng, huyện Quế Võ (Bắc Ninh). Khi được hỏi về đầu ra sản phẩm gốm, ông Nhung cho biết: Việc tiêu thụ sản phẩm rất khó và thường phải tự “bơi” trong cơ chế thị trường. Mặt khác, do chưa có đăng ký thương hiệu sản phẩm, nhiều đơn hàng xuất khẩu gốm của Phù Lãng phải thông qua sự quảng bá của gốm Bát Tràng, gây thiệt hại về kinh tế cho người sản xuất cũng như cơ hội quảng bá sản phẩm gốm Phù Lãng trên thị trường. Với tình hình sản xuất như hiện nay, làng gốm đang đứng trước nguy cơ mai một nếu không có sự can thiệp kịp thời từ phía các ngành chức năng, cơ quan quản lý nhà nước.

Chị Hà, một công nhân trong xưởng cho biết: “Nguồn thu nhập của chúng tôi chủ yếu phụ thuộc vào công việc sản xuất gốm. Trước đây, làng gốm phát triển khá sầm uất, xe cộ ra vào chuyển hàng nườm nượp, cũng nhờ vậy mà đời sống của bà con có phần sung túc. Khoảng bảy năm trở lại đây, sức mua của thị trường giảm nhiều. Hàng hóa ứ đọng, sản phẩm làm ra chất đống không có người mua, nhiều hộ đã phải thu hẹp phạm vi sản xuất, thậm chí phải bỏ nghề lên thành phố kiếm kế sinh nhai. Gia đình tôi có ít đất nông nghiệp, từ nhiều đời nay “cha truyền con nối” gắn bó với nghề nên khó mấy cũng phải cố gắng “bám” nghề để mưu sinh. Nhưng với tình hình sản xuất ảm đạm như hiện nay, không biết chúng tôi còn trụ được bao lâu”.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, Chủ tịch UBND xã Phù Lãng Nguyễn Tiến Nên cho biết, tuy có lịch sử phát triển lâu đời nhưng hiện nay, việc sản xuất gốm ở Phù Lãng chủ yếu vẫn mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ chứ chưa có sự hỗ trợ, định hướng từ phía các ngành chức năng và cơ quan quản lý nhà nước. Do vậy, khi nhu cầu, thị hiếu thị trường thay đổi, người sản xuất gốm ở Phù Lãng “bị động” trước thời cuộc.

Với gần 200 trong số 1996 hộ sản xuất, nghề gốm Phù Lãng đã giải quyết việc làm cho khoảng 500 lao động tại địa phương, doanh thu từ làm gốm chiếm hơn 30% thu nhập toàn xã. Vì thế, việc sống còn của làng gốm có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân cũng như tình hình phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

Trước đây, sản phẩm của làng gốm Phù Lãng chủ yếu là đồ gia dụng và tiêu thụ ở thị trường trong nước. Vào khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước, đây là những mặt hàng rất được ưa chuộng. Tuy nhiên, khi các sản phẩm cùng loại được thay thế bằng các chất liệu khác có độ bền hơn, mẫu mã đẹp đã làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm bằng gốm. Trước tình hình sản xuất gặp nhiều khó khăn, thế hệ trẻ ở Phù Lãng đã quyết tâm theo học ở các trường mỹ thuật và trở về địa phương để tạo ra những sản phẩm mới, đa dạng về mẫu mã, hình thức, với mong muốn giành lại thị trường cho sản phẩm gốm Phù Lãng. Nhiều mặt hàng gốm ở Phù Lãng đã xuất khẩu sang những thị trường khó tính như: Nhật Bản, Hàn Quốc… mang lại hy vọng hồi sinh làng nghề. Tuy nhiên, do không có sự định hướng, can thiệp cũng như dự báo thị trường từ phía các ngành chức năng nên chỉ trong một thời gian ngắn tồn tại, các sản phẩm gốm mỹ nghệ mới ra đời cũng đã và đang rơi vào bế tắc. Đến nay, người làm gốm ở Phù Lãng phải lăn lộn tìm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình và chật vật giữ nghề khi thế hệ trẻ đã không còn mặn mà với nghề truyền thống của cha ông.

(Còn nữa)
-------------------------
Hiện, cả nước có 104 làng nghề bị ô nhiễm. Trong đó, có những làng nghề mức độ ô nhiễm kim loại nặng độc hại cao hơn 3.000 lần quy chuẩn cho phép. Tỷ lệ bệnh tật tại các khu vực ô nhiễm do làng nghề ngày một gia tăng. Do đó, cần có kế hoạch xử lý triệt để từ nay đến năm 2020.
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường)
---------------------------




 

Kết mối với chúng tôi

Người xem

Liên hệ

Name

Email *

Message *

Video lưu trữ

Đăng ký cập nhật bài mới