Gốm sứ mỹ nghệ việt nam trên thi trường thế giới

Dù muốn hay không, các làng nghề gốm cũng đang ở trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thị trường của sản phẩm gốm sứ hiện nay là thị trường rộng lớn của 150 nước thành viên của WTO và khách hàng tiềm năng có thể thuộc hàng trăm dân tộc và nền văn hóa khác nhau.

Phố đàn Nguyễn Thiện Thuật- Làng đờn quận 4.

Ở Tp.HCM có một con đường được nhiều người gọi là phố đàn, đó là con đường Nguyễn Thiện Thuật nằm trên địa bàn quận 3. Những cửa hàng này có cái thâm niên đã mấy chục năm, nhưng có cái cũng chỉ mới mở vài ba năm với những cái tên như: Dung đàn, Guitar gỗ, Ngọc Hồ, Bình Guitar...

Doanh nhân Nguyễn Thị Đẹp - Người thổi "Hồn" cho hoa

Bước vào không gian trưng bày các sản phẩm thủ công của doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh, bất cứ ai cũng sẽ có cảm giác như lạc vào thế giới sắc màu với những sản phẩm nghệ thuật độc đáo từ hoa khô.Những vật liệu tự nhiên dưới bàn tay khéo léo của người thợ lành nghề, đã hình thành nên các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc như: bông hoa, giỏ hoa, quả cầu thủ công

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hữu Hạnh: Những bức tranh thêu gây hai niềm rung cảm

Ai là con gái Đà Lạt ít nhiều cũng biết đan móc, thêu thùa, vá may; chị Nguyễn Thị Hữu Hạnh cũng vậy, từ nhỏ đã quen thuộc với đường kim mũi chỉ trên những chiếc khăn. Được mẹ khen khéo tay, thêu đẹp, chị thêm thích thú với công việc.

Làng nghề gốm người Khmer Nam bộ

Điểm đặc sắc trong làng nghề gốm Tri Tôn là không dùng bàn xoay hoặc ứng dụng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào. Đơn thuần chỉ bằng tay với kinh nghiệm mang tính bẩm sinh.

07 October 2015

Chật vật làng nghề lồng đèn


Đang vào mùa Trung thu, nhưng các nghệ nhân làm lồng đèn ở làng nghề lồng đèn Phú Bình (phường 5, quận 11, TPHCM) buồn hiu hắt, bởi trẻ em bây giờ chẳng còn thích chơi lồng đèn. Các nghệ nhân làm chỉ vì đam mê, lưu luyến muốn giữ nghề nhưng lại không có học trò.

Lưu luyến với nghề

Chừng 10 năm về trước, trước mùa Trung thu, làng nghề lồng đèn Phú Bình luôn nhộn nhịp, người hối hả làm lồng đèn, người chở lồng đèn đi bán. Nhà nào cũng thấy có người chẻ tre, cắt sắt, dán giấy kiếng… Nay nghề truyền thống đã trở thành nghề phụ, được chăng hay chớ vào dịp Trung thu. Không ít nghệ nhân đã bỏ nghề, kiếm sống bằng công việc khác. 

Vậy mà gia đình anh Nguyễn Mạnh Tùng vẫn nấn ná với nghề làm lồng đèn. Gần một tháng nay, quán cơm tấm của gia đình anh trong khu dân cư Phú Bình đã tạm nghỉ bán để lấy mặt bằng làm lồng đèn. Toàn bộ thành viên gia đình tập trung làm. Người cắt thép, người nối thanh tre lại thành khung, người trang trí hoa văn… Vừa loay hoay cột thanh tre, anh Tùng kể: “Trước đây, cả nhà có thu nhập chính là từ nghề làm lồng đèn, có việc để làm quanh năm suốt tháng. Nhưng rồi lồng đèn nhựa của Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường nhiều năm, khiến lồng đèn truyền thống không còn chỗ đứng. Nhiều người ở làng nghề này đã bỏ nghề. Hai năm trở lại đây, lồng đèn Trung Quốc bị người tiêu dùng tẩy chay. Gia đình tôi lưu luyến nghề và không đành để nghề truyền thống này bị mai một nên làm lại vào mùa Trung thu này”.

Các hộ còn làm lồng đèn chỉ vì đam mê, lưu luyến với nghề

Cách đó không xa, cửa hàng bán gạo (gần chợ Phú Trung) của anh Bùi Đình Phùng cũng được gia đình tận dụng lối đi để gia công lồng đèn. Anh Phùng bùi ngùi: “Bây giờ làm lồng đèn chỉ để đỡ buồn, thấy nghề truyền thống vẫn chưa mai một, chứ chẳng thể trụ được để đủ nuôi sống gia đình. Chắc chừng vài năm nữa làng nghề lồng đèn duy nhất ở TPHCM này sẽ không còn”.

Ngay cả những người bán lồng đèn truyền thống cũng phải chật vật để tồn tại. Các cửa hàng lồng đèn trong khu vực làng nghề lồng đèn Phú Bình cũng phải bán thêm lồng đèn pin phát nhạc mới đủ sở hụi. Chị chủ cửa hàng trước giáo xứ Phú Bình than: “Trước đây, nhiều người ở các tỉnh lân cận đến đặt hàng mua về bán. Chúng tôi nhận mối rồi đặt lại các nghệ nhân làm để cung ứng. Nay thị trường bấp bênh, đến nỗi phải bán lồng đèn bằng pin để nuôi lồng đèn giấy. Năm ngoái, sau Trung thu, nhiều cửa hàng và nghệ nhân bị ế lồng đèn truyền thống do bị cạnh tranh phá giá. Thế là phải tháo bỏ giấy kiếng, còn khung để năm sau làm lại nếu không bị mối ăn”.

Phải có “đầu tàu”

Theo các cán bộ phường 5 (quận 11), nhiều lần, UBND phường đã vận động quy tụ toàn bộ nghệ nhân lại lập hợp tác xã, để tạo công việc ổn định, nhất là giữ vững được làng nghề, nhưng không nhận được sự hưởng ứng. Vì các hộ có mối riêng nên không muốn phải san sẻ với người khác. Việc mua bán lồng đèn chỉ diễn ra đơn lẻ, chưa có một hợp tác xã hay nhóm nào đứng ra tạo dựng thương hiệu để làm ăn bài bản, tạo sự tin tưởng cho khách đặt hàng. Trong tình thế chỉ làm vào mùa Trung thu nên không đủ sống, các nghệ nhân đành phải kiếm nghề khác, dẫn đến việc tìm học trò truyền nghề cũng rất khó. 

Ông Nguyễn Lực, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, phân tích: “Làng nghề truyền thống là một di sản phi vật thể. Bảo tồn di sản là trách nhiệm của địa phương trên cơ sở bám sát kế hoạch phát triển làng nghề. Nếu muốn giữ làng nghề lồng đèn Phú Bình, cần phải có hợp tác xã hướng dẫn truyền nghề, phương thức kinh doanh, tổ chức xúc tiến thương mại, triển khai các chính sách tư vấn đến các hộ sản xuất. Địa phương cần có cơ sở kinh doanh tại chỗ. Quan trọng là cách tiếp cận nguồn vốn như thế nào. Làng nghề cần phải có sự phối hợp với cơ quan truyền thông, quay lại với giá trị bản sắc dân tộc và sát hợp thị hiếu của người tiêu dùng, bắt đầu từ thiết kế với những sáng tạo mới, gần gũi cuộc sống. Nên tổ chức cuộc thi trình diễn, triển lãm lồng đèn để thu hút du khách đến tham quan chụp hình, mua làm vật lưu niệm…”.

THANH HẢI

Nguồn: http://www.sggp.org.vn/nhipcaubandoc/2015/9/396683/


31 August 2015

Ngày của một nghề: Độc đáo nghề làm khám thờ ở đảo Phú Quý


Ông Đỗ Phiêu.

Bình dân hóa rồng, phượng

Nhân vật của tôi là ông Đỗ Phiêu, ông chất phác đến mức, ngồi nói thao thao bất tuyệt về cái nghề của mình mà quên mất mục đích buổi trò chuyện. Đến khi tôi hỏi tên ông, ông ngơ ngác hỏi lại: “Tui tên Đỗ Phiêu, à mà sao hỏi tên tui thế?”. Tôi đã phải nhắc lại rằng, ông đang là nhân vật của mình, ông phá lên cười: “Ừ nhỉ! Nhớ rồi. Vậy mà nãy giờ tui vẫn còn tưởng cô đến đây để học nghề. Muốn học không, tui chỉ cho! Tui thèm có người đến học nghề quá”. Nói rồi, ông tự nhếu mình già cả, lẩm cẩm: “72 tuổi rồi nên lẩm cẩm thế đấy”. Tôi vẫn thấy ông còn minh mẫn, dẻo dai lắm. Vừa trò chuyện với tôi, ông vừa sơn nốt hình cái vây con rồng trên tấm mày bộ khám thờ. Ánh mắt ông say mê thích thú. Đôi tay cầm cọ nâng lên, hạ xuống mềm mại, “luyến láy” theo những đường cong, theo những nét đậm nhạt của mình rồng, trông ông thanh thản chẳng khác gì một ông đồ đang viết thư pháp.

Ông Phiêu kể rằng, muôn đời nay, những cuộc mưu sinh miệt mài của người dân trên đảo Phú Quý luôn gắn liền với biển cả, với cá tôm. Biển cũng như con người với đủ nét tính cách, khi hiền lành, khi giận dữ, khi êm ả ngọt ngào, khi lại nổi cơn tam bành, gào thét. Gắn bó với biển, người dân nhỏ bé, tội nghiệp chỉ biết phó thác vào sự buồn vui của thiên nhiên. Bởi vậy, trước mỗi lần đi ra biển đánh bắt, nhất là trước những chuyến đánh bắt xa bờ, người dân lại khấn vái tổ tiên, xin được phù hộ thuận buồm xuôi gió. Bàn thờ gia tiên vừa nhắc nhớ họ về cái gốc gác của mình, vừa là nơi tâm linh, thiêng liêng nhất trong một gia đình. Bằng giá nào, mỗi gian thờ trong ngôi nhà dân đảo Phú Quý nhất thiết phải có bộ khám.

Khám thờ ở Phú Quý đầy đủ thường được gọi là khám thờ kép. Ở phía mặt trước và trên cùng gọi là tấm mày. Mày được khắc 2 con rồng đối xứng nhau. Bên dưới mày là chân quỳ, chạm khắc bộ tứ quý mai, lan, cúc, trúc cách điệu, tượng trưng cho sự tươi đẹp, hòa thuận của thiên nhiên trong 4 mùa. Hai trụ long đăng ở hai bên, tượng trưng cho 2 cột nhà. Từ trên xuống dưới của long đăng, chạm trổ hình rồng, phượng ôm lấy thân trụ. Phần ngoài cùng hai bên gọi là cánh quạt, người ta chạm trổ các hình ảnh, hoa văn của 4 con vật tứ linh: Long, lân, quy, phụng.

Con rồng ông Phiêu đang sơn vẽ có nét hiền lành, bình dân chứ không quyền uy như hình tượng và quan niệm vốn có của nó. Tôi có cảm nhận bộ khám thờ của người dân đảo Phú Quý chứa đầy hình tượng của những con sóng. Có lẽ, họ ưa sự mềm mại, ưa những đường cong. Thậm chí, đến rồng, phượng như được các nghệ nhân cách điệu làm cho mềm mại, hiền lành đi, trở nên gần gũi với cuộc sống thường ngày của họ. Ông Đỗ Phiêu vừa miệt mài sơn vẽ hình rồng trên tấm mày khám, vừa gật đầu đồng ý với cảm nhận của tôi: “Đúng rồi, dân xứ tui thích rồng phượng trên bàn thờ gia tiên phải bình dân, nhưng cũng phải sinh động nữa”.

Hình ảnh rồng phượng trên khám thờ của người dân đảo Phú Quý chứa đầy màu sắc sôi nổi, xanh có, hồng có, vàng có, tím cũng có…

Ông Phiêu giải thích, người đảo Phú Quý gốc gác đa số là người miền Trung. Cuộc sống biền biệt với đất liền khiến việc giữ lại hình ảnh chiếc khám thờ như nguyên gốc quê mình trở nên khó khăn. Sống lâu đời trên đảo, họ đã hình thành những thứ rất riêng, rất Phú Quý. Cũng như giọng nói đặc trưng, pha trộn của nhiều tỉnh thành, chiếc khám thờ với hình ảnh rồng, phượng như hiện nay là kết quả của những sự pha trộn, góp ý lâu đời. Đến nỗi dù là dân Phú Quý gốc Phú Yên hay gốc Bình Định, gốc Ninh Thuận hay gốc Quảng Ngãi, Quảng Nam… đều thấy chiếc khám ấy quen thuộc, có nét gần gũi với gốc gác của mình.

Nghệ nhân “đơn độc”

Kể về lý do vì sao gắn bó với nghề làm khám thờ, ông Đỗ Phiêu lại cười thật thà: “Hồi đó, dân Phú Quý sống bằng nghề đi biển là chính. Nhưng đi biển cần phải có sức khỏe, sự dẻo dai. Hồi thiếu niên, tui đã thấy sức khỏe mình yếu, khó có thể gắn bó với nghề đi biển được. Khi đó, ông nội và ba tui đều đi làm thợ cho xưởng làm khám thờ. Tui cũng xin theo phụ kiếm tiền. Công việc ban đầu chỉ là làm công ăn lương, nhưng sau này tui lại thích và gắn bó với nghề. Gắn bó đến tận bây giờ”.

Sau giải phóng, ông Phiêu tự đứng ra mở xưởng làm khám thờ. Cùng với những người thanh niên trong xã. Ông miệt mài làm khám thờ theo sự đặt hàng của người dân. Với sự giúp sức của họ, cứ khoảng 2 tháng, ông làm xong một bộ khám. Sau này, nhiều thanh niên mải miết với công việc đi biển, có người lại về Phan Thiết làm ăn. Còn lại có một mình nên mỗi năm ông cũng chỉ dám nhận một hai bộ khám về làm.

Ông Phiêu bảo rằng, nghề làm khám không mất nhiều sức lực, nhưng đòi hỏi sự kỹ lưỡng, cẩn thận và một chút khéo léo, tài hoa. Để thực hiện một bộ khám phải trải qua rất nhiều công đoạn tỉ mỉ, nhưng có thể tóm tắt ở 3 công đoạn chính: Chuốt gỗ đục chạm và cuối cùng là sơn vẽ. Gỗ làm khám phải là gỗ tốt, có độ cứng, chắc chắn. Gỗ lõi mang về bào, đục mộng, rồi dùng giấy nhám, đánh cho bề mặt gỗ trở nên láng mịn, vuông vức.

Sau đó, người thợ sẽ phác thảo những đường nét hoạ tiết bằng bút chì trên bề mặt gỗ, đục chạm theo đường nét. Chiếc khám có đẹp hay không được quyết định rất nhiều ở công đoạn này. Bàn tay người thợ quyết định đường nét theo độ nông sâu của từng chi tiết. Cuối cùng là sơn vẽ. Công đoạn này không có một công thức nào, mà hoàn toàn dựa theo sự khéo léo, cảm nhận màu sắc của người vẽ.

Nhớ hồi còn “đi làm công ăn lương”, ông Đỗ Phiêu cũng phải mất đến 9 năm để học đục chạm. Học từ khi còn là một cậu thiếu niên đến khi… lấy vợ mới học xong. Còn sơn vẽ thì cứ theo cảm nhận của riêng mình, vì “chắc là tui cũng có năng khiếu vẽ vời đôi chút”. Ông bảo, chỉ riêng một cái râu con rồng thôi, cũng một màu đen, nhưng không phải cứ quết màu lên mà thành. Sơn vẽ sao cho đầu cọ tạo nên những vệt màu duyên dáng, để “cặp râu phải ra hồn vía của cặp râu”.

Công đoạn sơn vẽ này cũng bén duyên từng người. Có người học mãi không xong, không vẽ được. Có người chỉ mới quan sát đôi lần đã có thể tô vẽ được trên khám gỗ. Con trai ông là một ví dụ: “Hắn nhìn tui đôi lần đã xin làm thử. Trông thấy hắn vẽ, tui giật mình, không hiểu vì sao hắn vẽ đẹp vậy”.

Từ đó trở đi, con trai trở thành phụ tá đắc lực giúp ông rất nhiều ở công đoạn sơn vẽ. Mãi đến 2 năm nay, con trai đi học tận Phan Thiết, nhiều lúc, ông vẫn thường gửi tàu những chi tiết trên khám ra cho con trai vẽ giúp.

Ông bảo rằng, không phải mình mệt mỏi đến mức phải gửi khám ra tận Phan Thiết nhờ con trai sơn vẽ giúp. Lý do là vì ông cảm thấy mình “cứ đơn độc thế nào”. Một mình làm bao nhiêu công đoạn, rồi khi tác phẩm sắp thành công, ông muốn có ai đó góp ý với ông, có ai đó thẩm định giúp ông đẹp - xấu thế nào. Điều sâu xa hơn, ông muốn có một sợi dây gắn kết để truyền nghề cho con trai. Ông sợ “thằng ku ham học quên nghề”. Ông sợ nghề mà ông bỏ cả đời đeo đuổi sẽ mai một đi mất.

Ở cái tuổi của mình, ông vẫn cố làm mỗi năm một hai cái khám, cốt là “cho có cái nghề”. Hơn nữa là để “đợi thằng con về nối nghiệp. Nó học cao, học rộng thì chẳng còn mê nghề của tui nữa. Tui chẳng dám khuyên, chỉ có ý nhắc nhớ nó. Chỉ cần nó còn cùng tui làm nghề đến khi nào tui kiếm được người đến xin học việc”. Nhưng ông bảo chắc khó, giờ ông đã 72 rồi, “sắp về trời rồi”.

Ông nói câu ấy, giữa cái nắng chang chang ở đảo Phú Quý, giữa làn gió mang hơi biển mặn mòi rin rít da thịt, dường như tôi thấy giọt nước lóng lánh trong đôi mắt người nghệ nhân già. Ông phẩy tay, cố gượng cười: “Chao ôi! tui lẩm cẩm rồi, lẩm cẩm thật rồi”.

KHƯƠNG QUỲNH


Chiêm ngưỡng đồng hồ, cá chép, gương… từ bàn tay của những "tài hoa nghề mộc”


Ban tổ chức bất ngờ, người dân và du khách thì trầm trồ khen ngợi. Đó là sự thành công ban đầu cho cuộc thi “ tài hoa nghề mộc”, một hoạt động nằm trong sự kiện giao lưu văn hóa Hội An- Nhật Bản lần thứ 13.


Sau 2 ngày kiên trì thực hiện, các nghệ nhân nghề mộc tại Quảng Nam đã tac nên nhiều tác phẩm mang đậm chất nghệ thuật và thẩm mỹ. Đó chính là những thành công bước đầu, dù cuộc thi vẫn chưa công bố kết quả cuối cùng. Tuy nhiên, khi những sản phẩm này được trưng bày tại gian hàng hội thi “ tài hoa nghề mộc” sáng nay 30.8, cũng là lúc ghi nhận hiệu ứng từ người dân và du khách rất rõ nét. Đó là những lời khen tích cực, tôn vinh và hồi tưởng lại một nghề truyền thống của người dân Quảng Nam trước đây.

Bà Nguyễn Thị Vân- Trưởng phòng kinh tế Hội An không giấu được cảm xúc, cho biết:” Tôi đưa ra cuộc thi lần này nhưng cũng không thể tưởng tượng được cảm xúc của mình lúc này. Quá tuyệt vời”.

Cũng theo bà Vân, những nghệ nhân tham dự cuộc thi đã dốc hết sức mình, họ ngồi dưới gốc cây ven đường bên bờ sông Hoài, kiên trì đẽo đục gần 2 ngày liền. Chính những nhiệt huyết của tuổi trẻ và tâm huyết của người nghệ nhân là phục hồi và phát triển nghề mộc truyền thống, họ đã tạo nên những sản phẩm rất tuyệt vời.

Được biết, trong đêm nay, sự kiện giao lưu văn hóa Hội An- Nhật Bản sẽ bế mạc, cùng với đó là lễ công bố và trao thưởng cuộc thi “ tài hoa nghề mộc”. Những sản phẩm của cuộc thi sẽ được trưng bày, triễn lãm trong nhiều cuộc thi, hội chợ trong nước và quốc tế sau này.

















30 August 2015

Phát triển làng nghề truyền thống trong thời kỳ hội nhập (Tiếp theo và hết)


Làng nghề tre trúc Xuân Lai (xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 400 đến 500 lao động.

Bài 2: Chung tay phát triển các làng nghề

Để giải quyết khó khăn, giúp các làng nghề phát triển trong thời kỳ hội nhập, cần có những giải pháp hiệu quả xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường cũng như bảo đảm đầu ra cho sản phẩm. Bên cạnh đó, các bộ, ngành chức năng, các địa phương cần có sự phân cấp quản lý rõ ràng, tránh chồng chéo trong quản lý nhà nước ở địa phương…


Bảo đảm thị trường tiêu thụ sản phẩm

Sản phẩm của làng nghề truyền thống đã và đang được người tiêu dùng chấp nhận nhưng chưa có sức lan tỏa do giá thành cao, mẫu mã sản phẩm chưa đa dạng, chưa theo kịp thị hiếu người tiêu dùng cả trong và ngoài nước là một thực tế khiến cho hàng Việt truyền thống chưa thể đến nhiều với những thị trường khó tính nhưng đầy tiềm năng như: Anh, Mỹ, Pháp và Đức. Chính vì vậy, chủ trương hiện đại hóa công nghệ trong các làng nghề sao cho vừa bảo đảm tính nguyên tác, nhưng sản phẩm làm ra không mất đi tính truyền thống, tính độc đáo, độ tinh xảo, vừa đẩy mạnh được việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm làng nghề; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cho các làng nghề như đào tạo về kiến thức quản lý, về khởi sự doanh nghiệp; hỗ trợ các nghệ nhân, thợ lành nghề đào tạo truyền nghề trực tiếp tại cơ sở, đã trở thành đòi hỏi cấp bách đối với hầu hết các làng nghề truyền thống.

Làng nghề trúc Xuân Lai, xã Xuân Lai, huyện Gia Bình (Bắc Ninh), là một trong những làng nghề đi đầu trong đầu tư, cải tiến mẫu mã sản phẩm hợp với thị hiếu khách hàng. Trưởng thôn Xuân Lai Nguyễn Đình Nam chia sẻ: “Khoảng 25 năm nay, nghề tre, trúc phát triển mạnh. Các sản phẩm như tranh tre, bàn, ghế, xích đu, giường, tủ, kệ sách, khung nhà tre… của thôn đã được nhiều khách hàng trong và ngoài nước biết đến. Hiện nay, thôn có 840 hộ thì khoảng 30% số gia đình tham gia làm nghề, trong đó có 45 xưởng sản xuất với thu nhập khoảng 150 đến 200 nghìn đồng/người/ngày.

Phó Giám đốc Công ty cổ phần Giải Pháp Xuân Lai Lê Văn Xuyên chia sẻ: “Hiện nay, mỗi năm công ty có doanh thu đạt khoảng ba tỷ đồng. Để chủ động trong việc sản xuất, kinh doanh, công ty đã thực hiện việc quảng bá thương hiệu sản phẩm qua các kênh khác nhau, vì vậy các sản phẩm như bàn, ghế, giường, tủ… đã được nhiều khách hàng biết đến. Ngoài việc tìm hiểu thị trường, công ty chúng tôi cũng luôn thay đổi mẫu mã, chất lượng sản phẩm đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng”.

Trên thực tế, làng nghề trúc Xuân Lai chỉ là một trong số không nhiều làng nghề xây dựng được thương hiệu và tìm được một hướng đi đúng trong phát triển nghề truyền thống. Hiện Bắc Ninh có 62 làng nghề, trong đó có 30 làng nghề truyền thống như: tái chế giấy Phong Khê, sản xuất rượu Đại Lâm, đúc nhôm chì Văn Môn, sản xuất sắt thép tái chế Đa Hội, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái, làm bún Khắc Niệm... vẫn rơi vào cảnh “chợ chiều”.

Lý giải tình trạng nêu trên, lãnh đạo Sở Công thương tỉnh Bắc Ninh khẳng định, do quy mô sản xuất của các làng nghề hầu hết là nhỏ lẻ, cả làng cùng sản xuất ra những sản phẩm giống nhau từ dây chuyền công nghệ thủ công và lạc hậu cho nên không chỉ tiêu tốn nhiều nguyên, nhiên liệu mà còn khiến người tiêu dùng không hứng thú với các sản phẩm hiện có.

Khắc phục sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ

Theo Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Lưu Duy Dần, để các làng nghề truyền thống phát triển, cần thống nhất giao nhiệm vụ chủ trì quản lý nhà nước về lĩnh vực nghề và làng nghề cả nước, tránh tình trạng chồng chéo như hiện nay. Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các nghề và làng nghề truyền thống phát triển bền vững, như tiếp cận nguồn vốn tín dụng, giảm các thủ tục hành chính, tăng cường cho vay tín chấp, giảm lãi suất; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là trong việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề tháo gỡ những chính sách không phù hợp trong tiếp cận nguồn vốn, tạo động lực thúc đẩy các nhà khoa học, công nghệ trong việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào làng nghề. Có chính sách khuyến khích các làng nghề đưa hàng về các vùng nông thôn, miền núi, mở rộng thị trường nội địa; các làng nghề cần mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, trước hết tại các địa điểm nổi tiếng; củng cố cơ sở vật chất, tổ chức việc quảng bá, đào tạo hướng dẫn viên (nên sử dụng một số nghệ nhân), khắc phục các tệ nạn gây phản cảm cho khách du lịch.

Sản phẩm là yếu tố mang tính sống còn của các làng nghề, do vậy cần tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã và hình thức đẹp mắt, thu hút được người tiêu dùng. Để làm được điều đó, các làng nghề cần thường xuyên đầu tư hiện đại hóa công nghệ, cải tiến đổi mới phương pháp sản xuất, trau dồi tay nghề cho người lao động; tăng cường đào tạo nghề, cải tiến phương thức đào tạo, chuyển giao thêm cho các tổ chức xã hội thực hiện để đạt hiệu quả thiết thực hơn, người lao động sau khi được đào tạo có thể làm việc được ngay, không phải đào tạo lại; chú trọng phát huy các nghệ nhân vào giảng dạy tại các trường, lớp; hỗ trợ đào tạo các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các làng nghề; tuyên truyền rộng rãi để các cơ sở làng nghề, có thông tin, hiểu rõ, nắm chắc các quy định về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), từ đó chủ động chuẩn bị các giải pháp khi gia nhập và cũng là để các cơ quan nhà nước nắm chắc các quy định, tạo thuận lợi cho các cơ sở. Tập trung xử lý những cơ sở ô nhiễm nặng, tại những vùng rộng, những dòng sông liên quan nhiều địa phương, đồng thời có chính sách giúp đỡ cho các cơ sở tự xử lý dứt điểm ô nhiễm tại chỗ; di chuyển các cơ sở ô nhiễm...

Thực hiện tốt chương trình phát triển mỗi làng một nghề

Năm 2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng “Chương trình phát triển mỗi làng một nghề, giai đoạn 2006-2015” với mục tiêu đưa mức tăng trưởng ngành nghề nông thôn đạt 15%/năm, thu hút khoảng 300 nghìn lao động mỗi năm làm việc tại các làng nghề... Đây được xem là một trong những giải pháp quan trọng cho nhiều làng nghề truyền thống trên cả nước vượt qua khó khăn để tồn tại. Trên thực tế, mô hình này đã, đang mang lại những kết quả nhất định trong vực dậy nhiều làng nghề truyền thống.

Làng nghề dệt lụa Mã Châu, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) sau hàng chục năm thăng trầm, giờ đây đang bắt đầu hồi sinh. Với lịch sử khoảng 500 năm, sản phẩm lụa Mã Châu không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu đi các nước khác. Thế nhưng, vào những năm 90 của thế kỷ trước, do thị trường xuất khẩu sang các nước Ðông Âu, Liên Xô biến động; sản phẩm làm ra không tiêu thụ được cho nên phần lớn bà còn đành phải “treo” khung dệt. Những năm gần đây, do thị trường xuất khẩu vải bắt đầu phục hồi, lại được chính quyền địa phương quan tâm, hỗ trợ nên làng nghề Mã Châu từng bước được khôi phục. Từ năm 2009, HTX tơ lụa Mã Châu ra đời, thật sự mở ra một thời kỳ mới cho lụa Mã Châu.

Trao đổi ý kiến với chúng tôi, ông Trần Hữu Phương, Phó Giám đốc phụ trách HTX cho biết, dù còn nhiều khó khăn, nhưng sau một thời gian củng cố, đến nay, HTX đã xây dựng được chiến lược phát triển lâu dài, đó là trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, hoàn thành sản phẩm, xây dựng hệ thống bán lẻ và kết nối du lịch. Năm 2014, HTX sản xuất hơn 14 nghìn sản phẩm lụa các loại, với doanh thu gần bốn tỷ đồng. Nhờ duy trì được sản xuất, HTX đã tạo việc làm thường xuyên cho gần 40 lao động, với thu nhập bình quân bốn triệu đồng/người/tháng. Gần đây, để gắn sản xuất với phát triển du lịch làng nghề, ngoài việc nâng cấp lại điểm giới thiệu, quảng bá sản phẩm tại thị trấn Nam Phước, HTX đã đầu tư xây dựng cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại khu phố cổ Hội An vào hoạt động phục vụ du khách trong và ngoài nước. Hiện nay, làng dệt Mã Châu có khoảng 400 hộ dân gắn bó với nghề dệt nhưng chỉ có HTX Tơ lụa Mã Châu còn giữ được dệt lụa tơ tằm nguyên thủy.

Dù mô hình mỗi làng một nghề đã khẳng định tính ưu việt trong thời kinh tế thị trường, nhưng mô hình này cũng đang gặp phải không ít khó khăn về cơ chế, chính sách; thị trường tiêu thụ sản phẩm; hệ thống mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm và bao bì do chưa có đổi mới; sản xuất kinh doanh còn nhỏ lẻ…

Hiện nay số làng nghề và làng có nghề ở nước ta là 5.096. Số làng nghề truyền thống được công nhận là 1.839, thu hút khoảng 10 triệu lao động. Có nhiều làng nghề tồn tại hàng trăm năm, trở thành những làng nghề tiêu biểu, được cả nước và thế giới biết đến như lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng, Chu Đậu, gốm Bầu Trúc, gỗ Sơn Đồng, Ý Yên… Song điều đáng nói, hầu hết các làng nghề truyền thống đều rơi vào cảnh “chợ chiều” do gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ.

(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

BÀI VÀ ẢNH: HÙNG SƠN, MINH HUỆ VÀ NGUYÊN SƠN



Phát triển làng nghề truyền thống trong thời kỳ hội nhập (Kỳ 1)


Công nhân cơ sở sản xuất gốm Nhung (xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) hoàn thiện sản phẩm.

Hiện nay, cả nước có hàng nghìn làng nghề truyền thống, góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động nông thôn, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Tuy nhiên, các làng nghề đang gặp không ít khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm, trong đào tạo để giữ nghề và tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng...

Bài 1: Đối mặt khó khăn

Làm thế nào để tồn tại và phát triển trong thời kỳ hội nhập không chỉ là bài toán đặt ra đối với các làng nghề truyền thống mà còn của cả nền kinh tế khi ngày càng có thêm nhiều hiệp định thương mại được Chính phủ Việt Nam ký kết với các đối tác nước ngoài. Thực tế này buộc các làng nghề truyền thống tìm các giải pháp khắc phục khó khăn về ô nhiễm môi trường, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm…

Sống chung với ô nhiễm

Để mở rộng sản xuất, gia đình ông Nguyễn Văn Sử, xã Hòa Bình, huyện Thường Tín (Hà Nội) đầu tư 400 đến 500 triệu đồng mua các thiết bị máy móc cho cơ sở sản xuất các mặt hàng từ sừng trâu. Mỗi tháng ông phải bỏ ra hơn 100 triệu đồng mua nguyên liệu sừng trâu tại các lò mổ trong vùng để sản xuất các mặt hàng như lược, vòng trang sức,… thu nhập bình quân hơn 200 triệu đồng/tháng.

Điều đáng nói là sản phẩm do gia đình ông Sử làm ra chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước (60%), một số xuất sang Trung Quốc (hơn 30%), còn lại một phần rất nhỏ xuất sang một số nước châu Âu. Ông Sử chia sẻ: “Mặc dù sản xuất cho thu nhập ổn định nhưng cơ sở sản xuất của tôi cũng như nhiều hộ khác cũng chỉ xử lý ô nhiễm bằng những kinh nghiệm chứ không có các biện pháp khoa học để có thể xử lý triệt để”.

Được biết gia đình ông Sử đã đầu tư 20 đến 30 triệu đồng mua các thiết bị như quạt thông gió, hệ thống phun sương để giảm ô nhiễm. Nhưng khi bước chân vào xưởng sản xuất, bụi bốc lên tựa làn khói, phủ trắng các vật dụng, máy móc. Mặc dù đã trang bị quần áo, mũ, khẩu trang và kính chống bụi, nhưng về lâu dài, những trang bị bảo hộ thô sơ này vẫn không thể bảo đảm sức khỏe cho người lao động và mối lo về bệnh hô hấp, bệnh phổi không phải là không thể xảy ra.

Không chỉ cơ sở sản xuất lớn như của gia đình ông Sử chấp nhận sống chung với bụi, khí độc và tiếng ồn mà những cơ sở sản xuất nhỏ cũng không là ngoại lệ. Sự ô nhiễm gần như tỷ lệ thuận với quy mô cơ sở sản xuất, nghĩa là nơi quy mô sản xuất lớn thì ô nhiễm lớn và quy mô nhỏ thì ô nhiễm ở mức thấp hơn.

Điển hình như xưởng phun sơn cho các mặt hàng gỗ của gia đình ông Nguyễn Phúc Sơn, nằm ngay phía sau của Trường tiểu học xã Vạn Điểm (huyện Thường Tín, TP Hà Nội), khiến cho hàng trăm em học sinh cùng giáo viên trong trường hằng ngày phải chịu mùi sơn độc hại. Mặc dù đã có nhiều ý kiến phản ánh của phụ huynh, học sinh và các giáo viên trong trường đến chính quyền xã nhưng sự ô nhiễm của cơ sở sản xuất Phúc Sơn vẫn chưa được giải quyết. Theo lãnh đạo xã, việc chậm trễ này là do đề án quy hoạch lại làng nghề của xã vẫn còn nhiều vướng mắc về quỹ đất cho nên chưa thể triển khai.

Trao đổi về tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề truyền thống, ông Nguyễn Thanh Dũng, Phó Trưởng phòng Ngành nghề nông thôn (Cục Chế biến nông, lâm, thủy sản và nghề muối) khẳng định, do sự phát triển tự phát và sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu, hệ thống nước thải không được đầu tư, đã xả thải trực tiếp ra môi trường dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Chưa kể việc xuất hiện nhóm nghề tái chế chất thải ở nhiều địa phương đã làm gia tăng mức độ gây ô nhiễm môi trường. Và tình trạng ô nhiễm môi trường càng trở nên trầm trọng ở một số khu vực sản xuất tập trung như làng nghề tái chế giấy Dương Ổ (Bắc Ninh); tái chế nhựa Minh Khai (Hưng Yên); chế biến thực phẩm Dương Liễu (Hà Nội); kim khí Vân Tràng (Nam Định); nhuộm vải sợi ở Phương La (Thái Bình)…

Qua thống kê, có 54% tổng số hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn có tác động xấu tới môi trường, gây ô nhiễm không khí, nguồn nước và đất đai. Trong khi đó, chi phí cho việc khắc phục ô nhiễm làng nghề với kỹ thuật sản xuất thủ công, cơ khí lạc hậu và trình độ khoa học công nghệ trong nước hiện nay là khá tốn kém, làm tăng giá thành và giảm khả năng cạnh tranh. Do vậy, bảo vệ môi trường làng nghề là việc làm khó khăn, đòi hỏi sự tham gia tích cực của cộng đồng và cơ quan quản lý các cấp. Nếu các biện pháp triển khai không đồng bộ thì khó đạt kết quả.

Bị động với thị trường

Hiện nay, phần lớn các làng nghề chậm thay đổi về mô hình, chủ yếu là kinh doanh hộ, mô hình doanh nghiệp và hợp tác xã (HTX) còn ít. Đó là nguyên nhân cơ bản khiến làng nghề vẫn manh mún, nhỏ lẻ, chưa thể phát triển mạnh, vì kinh doanh hộ khó tiếp cận với vốn vay, công nghệ, thị trường… Còn theo lãnh đạo Cục Chế biến nông, lâm, sản và nghề muối, thị trường tiêu thụ sản phẩm ngành nghề nông thôn có tiềm năng lớn nếu biết nắm bắt và phát huy những thuận lợi. Tuy nhiên, trước mắt vẫn tồn tại nhiều khó khăn, đó là sự cạnh tranh của những mặt hàng cùng loại được sản xuất bằng công nghệ hiện đại từ các nước trong khu vực. Việc đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng trong các hợp đồng xuất khẩu với những yêu cầu lớn về số lượng, chủng loại và yêu cầu nghiêm ngặt về thời gian giao hàng, hiện đang là khó khăn đối với các doanh nghiệp, các làng nghề nông thôn. Bên cạnh đó, do thiếu thông tin về thị trường cho nên việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ nước ta còn phát triển chậm. Đa số sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ ở làng nghề vẫn sản xuất theo mẫu cũ, ít được cải tiến, sáng tạo mới. Một số làng nghề chỉ chuyên sản xuất theo mẫu đặt hàng có sẵn của khách hàng. Việc đăng ký thương hiệu hàng hóa và kiểu dáng sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh chưa được quan tâm đầu tư, hỗ trợ.

Chúng tôi tới thăm cơ sở sản xuất gốm của ông Vũ Hữu Nhung ở làng nghề gốm Phù Lãng, huyện Quế Võ (Bắc Ninh). Khi được hỏi về đầu ra sản phẩm gốm, ông Nhung cho biết: Việc tiêu thụ sản phẩm rất khó và thường phải tự “bơi” trong cơ chế thị trường. Mặt khác, do chưa có đăng ký thương hiệu sản phẩm, nhiều đơn hàng xuất khẩu gốm của Phù Lãng phải thông qua sự quảng bá của gốm Bát Tràng, gây thiệt hại về kinh tế cho người sản xuất cũng như cơ hội quảng bá sản phẩm gốm Phù Lãng trên thị trường. Với tình hình sản xuất như hiện nay, làng gốm đang đứng trước nguy cơ mai một nếu không có sự can thiệp kịp thời từ phía các ngành chức năng, cơ quan quản lý nhà nước.

Chị Hà, một công nhân trong xưởng cho biết: “Nguồn thu nhập của chúng tôi chủ yếu phụ thuộc vào công việc sản xuất gốm. Trước đây, làng gốm phát triển khá sầm uất, xe cộ ra vào chuyển hàng nườm nượp, cũng nhờ vậy mà đời sống của bà con có phần sung túc. Khoảng bảy năm trở lại đây, sức mua của thị trường giảm nhiều. Hàng hóa ứ đọng, sản phẩm làm ra chất đống không có người mua, nhiều hộ đã phải thu hẹp phạm vi sản xuất, thậm chí phải bỏ nghề lên thành phố kiếm kế sinh nhai. Gia đình tôi có ít đất nông nghiệp, từ nhiều đời nay “cha truyền con nối” gắn bó với nghề nên khó mấy cũng phải cố gắng “bám” nghề để mưu sinh. Nhưng với tình hình sản xuất ảm đạm như hiện nay, không biết chúng tôi còn trụ được bao lâu”.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, Chủ tịch UBND xã Phù Lãng Nguyễn Tiến Nên cho biết, tuy có lịch sử phát triển lâu đời nhưng hiện nay, việc sản xuất gốm ở Phù Lãng chủ yếu vẫn mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ chứ chưa có sự hỗ trợ, định hướng từ phía các ngành chức năng và cơ quan quản lý nhà nước. Do vậy, khi nhu cầu, thị hiếu thị trường thay đổi, người sản xuất gốm ở Phù Lãng “bị động” trước thời cuộc.

Với gần 200 trong số 1996 hộ sản xuất, nghề gốm Phù Lãng đã giải quyết việc làm cho khoảng 500 lao động tại địa phương, doanh thu từ làm gốm chiếm hơn 30% thu nhập toàn xã. Vì thế, việc sống còn của làng gốm có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân cũng như tình hình phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

Trước đây, sản phẩm của làng gốm Phù Lãng chủ yếu là đồ gia dụng và tiêu thụ ở thị trường trong nước. Vào khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước, đây là những mặt hàng rất được ưa chuộng. Tuy nhiên, khi các sản phẩm cùng loại được thay thế bằng các chất liệu khác có độ bền hơn, mẫu mã đẹp đã làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm bằng gốm. Trước tình hình sản xuất gặp nhiều khó khăn, thế hệ trẻ ở Phù Lãng đã quyết tâm theo học ở các trường mỹ thuật và trở về địa phương để tạo ra những sản phẩm mới, đa dạng về mẫu mã, hình thức, với mong muốn giành lại thị trường cho sản phẩm gốm Phù Lãng. Nhiều mặt hàng gốm ở Phù Lãng đã xuất khẩu sang những thị trường khó tính như: Nhật Bản, Hàn Quốc… mang lại hy vọng hồi sinh làng nghề. Tuy nhiên, do không có sự định hướng, can thiệp cũng như dự báo thị trường từ phía các ngành chức năng nên chỉ trong một thời gian ngắn tồn tại, các sản phẩm gốm mỹ nghệ mới ra đời cũng đã và đang rơi vào bế tắc. Đến nay, người làm gốm ở Phù Lãng phải lăn lộn tìm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình và chật vật giữ nghề khi thế hệ trẻ đã không còn mặn mà với nghề truyền thống của cha ông.

(Còn nữa)
-------------------------
Hiện, cả nước có 104 làng nghề bị ô nhiễm. Trong đó, có những làng nghề mức độ ô nhiễm kim loại nặng độc hại cao hơn 3.000 lần quy chuẩn cho phép. Tỷ lệ bệnh tật tại các khu vực ô nhiễm do làng nghề ngày một gia tăng. Do đó, cần có kế hoạch xử lý triệt để từ nay đến năm 2020.
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường)
---------------------------




13 May 2015

Xuất khẩu sản phẩm gốm sứ quí I/2015 sụt giảm nhẹ so với cùng kỳ


Xuất khẩu sản phẩm gốm sứ sang các thị trường trong những năm gần đây luôn chiếm tỷ trọng cao trong ngành hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Giai đoạn 2010-2014, kim ngạch trung bình đạt trên 300 triệu USD/năm, tăng trưởng trung bình khoảng 13%/năm. Năm 2014, kim ngạch đạt cao 508,21 triệu USD, tăng 7,6% so với năm 2013.


Quý I/2015 xuất khẩu sản phẩm này đạt 118,53 triệu USD, giảm nhẹ 1,34% so với cùng kỳ năm 2014; trong đó riêng tháng 3 kim ngạch xuất khẩu đạt 39,88 triệu USD, tăng 32,2% so với tháng trước đó.

Mặc dù có sự sụt giảm về kim ngạch so với cùng kỳ, song Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đài Loan vẫn giữ vững là 3 thị trường lớn nhất nhập khẩu mặt hàng gốm sứ Việt Nam tính đến hết quý I năm 2015, chiếm 40,83% thị phần. Trong đó, thị trường Nhật Bản đứng đầu, với 18,92 triệu USD, chiếm 15,96%, giảm 11,82% so với cùng kỳ. Tiếp đến là Hoa Kỳ với 16,25 triệu USD, chiếm 13,71%, giảm 3,4%; Đài Loan 13,23 triệu USD, chiếm 11,16%, giảm 8,36%.

Nhìn chung xuất khẩu sản phẩm gốm sứ trong quý I năm 2015 sang đa số các thị trường đều bị sụt giảm về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, Thụy Sĩ (-97,75%), Áo (-87,46%), I rắc (-75,87%) và Nga (-64,76%) là 4 thị trường có sự sụt giảm lớn về kim ngạch. Tuy nhiên, xuất khẩu sang Ấn Độ, Hồng Kông và Hà Lan lại tăng trưởng mạnh, với mức tăng lần lượt là 239,18%, 153,88 và 109,61%. Đây là những thị trường có xu hướng tiêu thụ mạnh sản phẩm gốm sứ Việt Nam tính đến hết quý I năm 2015.

05 April 2015

Thoi thóp thổ cẩm Tây Nguyên


Người dân không lấy sợi từ cây gai rừng nữa mà mua chỉ công nghiệp về dệt vải để may váy, áo, dồ, khố... Trong khi đó, chính đồng bào Tây Nguyên giờ đây cũng không còn mấy ai mặc trang phục truyền thống.

Như mọi dân tộc trên trái đất này, sau thời ăn lông ở lỗ, người Tây Nguyên lấy lá cây che thân. Sau thời lá cây là vỏ cây. Thời vỏ cây kéo dài cho đến sát thế kỷ XX.

“Cải tiến” theo thị trường

Nếu ai đã đọc tiểu thuyết Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc thì đều biết dân làng Kông Hoa của Anh hùng Núp cũng từng mặc áo, khố vỏ cây. Nói vỏ cây nhưng thực ra nó là lớp lụa của một loại cây, khá bền và mỏng. Vỏ cây đập dập ra thì tước được một lớp lụa. Qua bàn tay khéo léo của các cô gái, nó thành một thứ có thể quấn quanh người để che những chỗ cần che và để ấm nữa.

Cho đến gần đây, đàn ông Tây Nguyên vẫn đóng khố cởi trần, đàn bà vẫn mặc váy và mặc kệ cho ngực... tung tăng đi chơi. Chỉ đến khi trở thành vợ, thành mẹ, phụ nữ Tây Nguyên mới mặc áo che ngực. Rồi cũng như mọi dân tộc trên trái đất này, người Tây Nguyên dệt vải và may quần áo từ những sợi chỉ lấy từ cây gai rừng.

Mới đây, khi đến làng Dor 2, xã Glar, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai, tôi mới biết một việc diễn ra đã khá lâu rồi mà mình không hay. Ấy là, giờ bà con không lấy sợi từ cây gai rừng để dệt nữa mà mua chỉ công nghiệp về dệt vải để may váy, áo các loại.

Ngày xưa, bà con vào rừng tìm cây gai lấy vỏ, tước thành sợi rồi nhuộm. Người Tây Nguyên chuộng mấy màu cơ bản như đỏ, đen, chàm, xanh - cũng có thể là do nó dễ làm. Sợi ấy dệt thành vải, dùng may thành các loại trang phục như váy, áo, khố, dồ (tấm đắp và dùng để địu con)...
Xưởng dệt của chị Mlop ở huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai


Thoạt nhìn, có cảm giác màu sắc, hoa văn trên trang phục truyền thống của tất cả cư dân cùng sống ở dải đất Tây Nguyên đều giống nhau song không phải thế. Mỗi dân tộc có họa tiết, hoa văn khác nhau; cách phối màu, vị trí cũng khác nhau... Sở dĩ mới nhìn, ta có cảm giác giống nhau là bởi chúng có sự tương đồng lớn. Ở Gia Lai có 2 dân tộc bản địa chính là Jrai và Bahnar. Họa tiết, hoa văn trên váy hoặc tua khố của 2 dân tộc này rất khác, dù mới nhìn thì thấy chúng na ná nhau.

Mlonh bên những sản phẩm do mẹ con cô làm ra

Đồng bào Tây Nguyên thường trong đời chỉ có vài bộ váy, áo do họ tự dệt. Dệt được một tấm vải để làm dồ, váy, áo hoặc khố rất công phu và tốn thời gian, có khi đến mấy tháng trời. Vậy nên, giờ bà con “cải tiến”, mua chỉ màu về dệt, vừa nhanh mà lại vừa đẹp, nhiều màu sắc.

Tôi hỏi đi hỏi lại Mlop, người có một xưởng dệt ở làng Dor 2, chị cho biết may váy, áo vẫn dùng màu sắc cũ; còn làm các loại túi xách, mũ, áo... du lịch thì mới phối màu theo thị trường. Cả huyện Đăk Đoa giờ chỉ còn làng Dor 2 và cả làng này chỉ có mẹ con chị Mlop duy trì nghề dệt.

Trung tâm Khuyến công tỉnh Gia Lai có về xã Glar đầu tư mở một lớp khá hiện đại, mỗi học viên đi học dệt vải được nhà nước chi 15.000 đồng/ngày. Chị Mlop là giáo viên, được khoán trọn gói một khóa 3 tháng là 5 triệu đồng. Không chỉ dạy ở lớp, chị còn về nhà mở xưởng, vừa dạy vừa giúp chị em trong làng có thu nhập thêm.

Bất cứ ai nhàn rỗi đến nhà Mlop đều có việc cho làm. Đơn giản nhất là gỡ chỉ trong cuộn thành từng “sợi”. Mỗi “sợi” như thế là mấy cuộn chỉ với nhiều màu theo thứ tự để may từng thứ khác nhau qua hướng dẫn của chị. May túi thì khác, áo hay bóp, mũ... cũng khác, do ý đồ phối màu, xong rồi đến dệt. Từng “sợi” chỉ sau khi dệt thủ công sẽ cho ra những miếng vải đủ loại để may từng thứ theo yêu cầu.

Mỗi người đến làm ở nhà chị Mlop đều được trả khoán theo công việc. Thu nhập tùy việc họ đến sớm hay muộn, có người 30.000 đồng, cũng có người được 100.000 đồng/ngày. Mùa khô ít người đến nhất bởi bà con đi làm rẫy nhưng mùa mưa thì phụ nữ trong làng rảnh rỗi nhiều. Mùa hè còn có học sinh tham gia. Chịu khó kiếm thêm như thế cũng có đồng ra đồng vào để chi tiêu, bớt đi việc ngồi lê rồi sinh ra đủ chuyện không hay.

Chủ yếu cầm cự

Cái khó nhất của chị Mlop là thiếu vốn. Từ “vốn” thì đến bất cứ cơ sở kinh doanh nào cũng thấy nó vang lên đầy thiểu não. Nhưng ở cái xưởng bé bé của Mlop thì khác, bởi đồng bào Tây Nguyên rất thật thà, họ làm xong và lấy tiền ngay trong ngày, không trả tiền là... không về, trong khi hàng của chị bán rất chậm.

Chị Mlop có cô con gái là Mlonh ở cách nhà mẹ chừng 200 m. Cô đảm nhận việc may. Cứ có vải bên mẹ chuyển sang là Mlonh may. Tất nhiên, giờ đầu ra rất khó nên cô chỉ may khi có người đặt. Tôi đặt giúp bảo tàng văn học của Hội Nhà văn 2 bộ váy áo truyền thống của phụ nữ Jrai và Bahnar. Té ra giá rất rẻ, chỉ chưa đầy triệu đồng một bộ nhưng nếu tính công ra thì nhiều kinh khủng. Ví dụ, để có một tấm vải may váy, nếu dệt nhanh, liên tục thì vài tuần; còn cà kê vừa làm vừa... lên “phây” có khi phải mất mấy tháng. Mà như đã nói, để ra một sản phẩm cuối cùng như váy, áo, khố... cần rất nhiều công đoạn.

Tôi hỏi Mlop về tương lai của nghề này, chị bảo: “Khó lắm, chủ yếu cầm cự cho các cháu trong vùng biết nghề, chứ có bán được đâu, dù rất rẻ”. Thường thì các sơ ở nhà thờ gỗ Kon Tum điện đến đặt. Cùng con gái làm xong, Mlop trực tiếp chạy xe máy từ làng ra TP Pleiku, rồi đi xe đò lên Kon Tum giao cho các sơ. Nhà thờ gỗ Kon Tum là điểm có đông khách tham quan nên họ hay mua những sản phẩm này về làm kỷ niệm. Ngoài ra, chị còn mang đến Pleiku ký gửi. Rồi một vài tỉnh phía Nam cũng đặt, chị lại đóng thùng chở ra bến gửi xe đò...

Trong cuộc sống hằng ngày của đồng bào Tây Nguyên, giờ đây, trang phục truyền thống hầu như không ai mặc. Khi vào thăm 2 xưởng của Mlop và Mlonh, tôi thấy cả mẹ con chị và một số thợ đều mặc áo thun quần tây. Có lần tôi dẫn mấy ông bạn nhiếp ảnh về làng, nhờ đồng bào mặc đồ truyền thống để chụp hình. Thế là bà con nháo nhào chạy khắp nơi... mượn!

Vậy nên, thi thoảng ta vẫn bắt gặp vài cảnh buồn cười trên truyền hình là bà con Tây Nguyên đi làm rẫy mà mặc đồ truyền thống mới tinh. Ôi giời, các phóng viên của chúng ta nài nỉ đồng bào đấy, chứ bình thường họ chả mặc! Đơn giản, vì để có được một bộ đồ truyền thống thì rất kỳ công, trong khi hàng chợ rẻ rề lại sặc sỡ, thời trang, tội gì không mua về mặc? Nói thổ cẩm thoi thóp là vì thế.

Bài và ảnh: Văn Công Hùng
Báo Người Lao Động

18 January 2015

Làng hoa nín thở chờ Tết


Thời tiết thất thường, sâu bệnh khiến hoa Tết năm nay đứng trước nguy cơ mất mùa. Người trồng hoa vừa chờ Tết vừa run bởi giá cả thị trường cũng rất khó lường.

Còn 1 tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Ất Mùi, đây cũng là thời điểm các nhà vườn chạy nước rút để chuẩn bị lứa hoa phục vụ Tết. Tuy nhiên, tâm trạng của nhiều nhà vườn từ Lâm Đồng đến ĐBSCL phấn khởi thì ít, hồi hộp thì nhiều.

Méo mặt với thời tiết

Năm nay, TP Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp có khoảng 2.000 hộ dân trồng hoa Tết với tổng diện tích hơn 75 ha. Tuy nhiên, do thời tiết nắng mưa thất thường làm sâu bệnh phát triển, kéo theo năng suất của nhiều vườn hoa giảm 5%-10%, cá biệt có nơi lên đến 30%.

Người trồng địa lan ở Đà Lạt méo mặt vì chưa đến Tết hoa đã nở vàng rực Ảnh: THẠCH THẢO

“Gia đình tôi đầu tư hơn 300 triệu trồng cho 10.000 sản phẩm hoa kiểng, ước tính lời một khoản kha khá nếu thuận lợi như mọi năm. Nhưng năm nay thời tiết không ổn, xuất hiện nhiều sâu bệnh. Vụ hoa Tết này, hy vọng giá cả được như mọi năm thì gia đình tôi sẽ thu lại vốn, có đồng lời để tái đầu tư cho vụ sau. Nếu không thì đành đợi năm sau vậy” - ông Trịnh Văn Tấn - người trồng hoa ở khóm Tân Mỹ, phường Tân Quy Đông, TP Sa Đéc - lo lắng.

Không bị sâu bệnh tấn công nhưng nhiều vườn mai năm nay cũng bị thời tiết thất thường làm rụng lá, bung nụ từ cuối tháng 11 âm lịch. Vào những ngày này, đi dọc Quốc lộ 57, đoạn từ thị trấn Chợ Lách đến xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, chúng tôi thấy sắc vàng của mai đã lác đác khắp nơi.

Các nhà vườn trồng mai Tết ở Đồng Tháp, TP Cần Thơ, Vĩnh Long cũng đang gặp tình trạng tương tự, dự kiến thất thu hàng trăm triệu đồng. Ông Đặng Văn Bảy ở quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, chủ một vườn mai trên 5.000 cây (đa số là mai trung, giá từ 500.000 đồng  đến vài triệu đồng/cây), cho biết vườn của ông  sẽ thất thu 20% - 50% do mai nở sớm hơn dự kiến.

Thời tiết năm nay đặc biệt tác động mạnh lên các nhà vườn ở TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Riêng với người trồng địa lan, phần lớn đã xác định mất mùa hoa Tết bởi hiện hầu hết hoa đã nở rộ, có vườn nở tới 90% diện tích.

Ông Nguyễn Văn Thành, chủ nông trại địa lan có quy mô lớn ở Đà Lạt, cho biết năm nay, vườn hoa 4 ha của gia đình ông coi như mất trắng khi từ tháng 10, chúng đồng loạt đơm hoa. Để vớt vát chút vốn, gia đình ông đành cắt hoa đem bán, giá cao nhất cũng chỉ 70.000 đồng/cành.

Như ngồi trên đống lửa

Làm hoa Tết, lời hay lỗ không chỉ phụ thuộc vào thời tiết mà còn giá cả thị trường. Xã Hiệp An, huyện Đức Trọng là nơi trồng hoa lay ơn phục vụ thị trường Tết lớn nhất tỉnh Lâm Đồng với diện tích 245 ha. So với năm trước, diện tích hoa lay ơn năm nay tại địa phương có phần tăng hơn.

Theo ông Vương Hưng Tuân, cán bộ khuyến nông xã Hiệp An, nguyên nhân khiến diện tích lay ơn năm nay tăng là do năm 2014, giá loại hoa này bỗng cao đột biến, lên tới 4.500 đồng/bông. Dù được mùa hoa nhưng những ngày này, tâm trạng của các hộ trồng hoa ở Hiệp An như ngồi trên đống lửa.

“Gia đình tôi làm gần 1 ha lay ơn, chi phí đầu tư hết 200 triệu đồng. Đây là số tiền gia đình dành dụm được và đi vay thêm. Tôi không kỳ vọng giá hoa lay ơn sẽ cao như năm ngoái, chỉ cần 2.000 đồng/bông là có lãi” - chị Vũ Thị Thảo, một người trồng lay ơn ở Hiệp An, mong mỏi.

Theo chị Thảo, đã trồng hoa Tết thì không nói trước được điều gì. Nhiều năm, chỉ sau một đêm là giá hoa từ đắt đỏ trở nên rẻ mạt. “Tiền nắm trong tay rồi mới dám chắc là vụ hoa này mình lời lãi bao nhiêu” - chị Thảo khẳng định.

Theo bà Trương Thị Hồng, người đã hơn 30 năm kinh nghiệm trồng lay ơn ở xã Hiệp An, có năm, hoa lay ơn Tết đụng chợ không bán được phải nhổ bỏ, nhà vườn lâm cảnh trắng tay phải cầm cố nhà cửa.

Ông Nguyễn Khoa Nam - một người trồng mai có kinh nghiệm ở làng mai Vĩnh Phú, huyện Chợ Lách - cho rằng muốn có một cây mai đẹp chưng tết, người trồng phải mất 2-3 năm bón phân, tưới nước, cắt tỉa, uốn sửa, tạo dáng… Vì vậy, thị trường tiêu thụ và giá cả luôn là mối quan tâm hàng đầu của người trồng mai. Nếu bán không được hoặc giá quá thấp thì công cán bao nhiêu năm coi như công cốc.

Theo ông Trần Công Định, một người chuyên trồng mai ở huyện Chợ Lách, Tết nào gia đình ông cũng tung ra thị trường trên 2.000 chậu mai nhỏ có giá 80.000 - 120.000 đồng/chậu, thu nhập mỗi năm trên 150 triệu đồng. Tuy nhiên, đến giờ này, các thương lái vẫn còn chần chừ chưa dám nhận hàng với số lượng lớn.

Hoa đẹp là được!

Ông Nguyễn Văn Thắng - một nông dân trồng hoa cúc theo hướng công nghệ cao tại phường 12, TP Đà Lạt - cho rằng vào thời điểm này, nói đến chuyện lời lỗ là quá sớm. Hiện ông và hàng trăm nhà vườn khác chỉ huy động hết nhân lực, tài lực để làm sao đưa ra thị trường hoa Tết những sản phẩm chất lượng nhất.

Cũng như vậy, mấy ngày nay, gia đình chị Trần Thị Thanh Thảo - ở phường Tân Quy Đông, TP Sa Đéc - tập trung hết mọi sức lực cho hơn 4.000 m2 hoa kiểng Tết đang vươn nụ. “Những chậu hoa cúc mâm xôi, cúc Đài Loan, cát tường đã được phân loại và sắp xếp thẳng hàng chờ thương lái đến chuyển lên xe đưa đi tiêu thụ. Tết này, tôi sẽ đưa ra thị trường khoảng 10.000 chậu hoa”.

Một hộ trồng hoa khác ở Tân Quy Đông, gia đình anh Nguyễn Văn Nghĩa, thì đang tăng cường các biện pháp kỹ thuật để canh cho vườn hoa rộng hơn 2.000 m2 với đủ chủng loại như cúc mâm xôi, cúc đồng tiền, lan ý mỹ, cát tường... nở đúng dịp Tết.

Bưởi bàn tay Phật bị làm giá
Theo nhận định của một số thương lái, Tết năm nay, bưởi bàn tay Phật (còn gọi là bưởi Cát Tường) sẽ ghi dấu ấn trên thị trường giống như bưởi hồ lô khi mới “ra lò”. Tuy nhiên, cũng tương tự bưởi hồ lô trước đây, bưởi bàn tay Phật đang bị một số người hét giá khi chưa xuất hiện trên thị trường. Theo đó, có thông tin loại bưởi này sẽ có giá 4-5 triệu đồng/quả.
Bưởi bàn tay Phật được cho là đang bị làm giá Ảnh: PHẠM CÔNG
“Đó chỉ là chiêu PR mà thôi. Bởi lẽ những năm trước, giá bưởi hồ lô cũng được hét lên cao khiến nhiều người ái ngại khi mua, dẫn đến việc nhiều tiểu thương ôm hàng vì không bán được. Năm nay, đến lượt bưởi bàn tay Phật lặp lại điệp khúc ấy” - một tiểu thương chuyên kinh doanh trái cây Tết ở TP Cần Thơ nhận định.
PHẠM CÔNG - THỐT NỐT - NGỌC TRINH - THẠCH THẢO
Theo Người Lao động

02 January 2015

Tiêu chuẩn xét tặng “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” nghề thủ công mỹ nghệ


Ngày 25/12/2014, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 123/2014/NĐ-CP quy định về xét tặng danh hiệu "Nghệ nhân nhân dân", "Nghệ nhân ưu tú" trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ, trong đó quy định tiêu chuẩn xét tặng 2 danh hiệu này.

Gốm Long Hồ, Vĩnh Long

Tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu "Nghệ nhân ưu tú"

Danh hiệu "Nghệ nhân ưu tú" được xét tặng cho cá nhân đạt đủ 4 tiêu chuẩn sau:

Các tiêu chuẩn 1 và 2 xét tặng danh hiệu "Nghệ nhân nhân dân" nêu trên.

Có tri thức, kỹ năng đặc biệt xuất sắc, có công lớn trong việc bảo vệ và phát huy giá trị nghề thủ công mỹ nghệ của địa phương, cụ thể nắm giữ kỹ năng, bí quyết; truyền nghề, dạy nghề cho từ 100 cá nhân trở lên, trừ trường hợp nghề đặc thù; trực tiếp thiết kế, chế tác được ít nhất 10 sản phẩm, tác phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật và mỹ thuật cao.

Đã có tác phẩm, sản phẩm đạt một trong các tiêu chí như được giải thưởng hoặc được tổ chức nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội - nghề nghiệp cấp chứng nhận đạt thành tích tại các cuộc thi, hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế được Thủ tướng Chính phủ cho phép tổ chức; được chọn trưng bày trong các bảo tàng, công trình văn hóa, di tích lịch sử hoặc các sự kiện lớn của đất nước; được chọn làm mẫu phục vụ công tác giảng dạy tại các trường mỹ thuật hoặc dạy nghề; được sử dụng vào công trình phục chế di tích lịch sử, văn hóa được chính quyền địa phương nơi có di tích lịch sử, văn hóa xác nhận.

Có thời gian hoạt động trong nghề từ 15 năm trở lên.

Quy trình, thủ tục xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân” và “Nghệ nhân ưu tú” ở Hội đồng cấp tỉnh

Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng cấp tính xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân” và “Nghệ nhân ưu tú”;

Tổ chức lấy ý kiến của cộng đồng dân cư ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) nơi cá nhân đề nghị xét tặng đang cư trú hoặc hội nghề nghiệp nới cá nhân đề nghị xét tặng đang hoạt động để đưa vào hồ sơ đề nghị xét tặng theo Mẫu số 3 quy định tại phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;

Thông báo danh sách các cá nhân đề nghị xét tặng trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh, thành phú trực thuộc Trung ương; đăng tải danh sách, bản khai thành tích của các cá nhân đề nghị xét tặng trên Cổng thông tin điện tử của Ủy bân nhân dân cấp tỉnh để lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 15 ngày làm việc;

Gửi tài liệu, hồ sơ đề nghị xét tặng đến các thành viên của Hội đồng cấp tỉnh và tổ chức cuộc họp của Hội đồng để xét chọn.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2015. Những quy định tại các văn bản khác trước đây trái với quy định tại Nghị định này đều bị bãi bỏ./.

Minh Loan
Bộ Tư pháp, moj.gov.vn
Tải toàn văn ở đây: Văn bản gốc, File word


01 January 2015

Làng nghề gốm người Khmer Nam bộ


Điểm đặc sắc trong làng nghề gốm Tri Tôn là không dùng bàn xoay hoặc ứng dụng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào. Đơn thuần chỉ bằng tay với kinh nghiệm mang tính bẩm sinh.

Làng gốm Tri Tôn

Đến Tri Tôn, tỉnh An Giang và tận mắt nhìn thấy làng gốm An Thuận của người Khmer, mà tiếng địa phương gọi là sóc Phnom Pi, có nghĩa là vùng đất đồi. Ngoài làm ruộng nước với những kinh nghiệm hàng chục thế kỷ miền sông nước này, người Khmer Nam Bộ còn có nghề dệt vải tơ tằm ở Tịnh Biên, nghề rèn nghề làm xe bò kéo, nghề làm rượu Thốt Nốt và nhiều nghề lâu đời khác.. nhưng độc đáo và mang tính cổ truyền nhất là nghề làm gốm ở Tri Tôn.

Lịch sử địa phương và những phóng sự cách nay hơn một thế kỷ ghi lại: Đến phiên chợ, các địa phương tấp ghe vô bến sông Tri Tôn nhận hàng. Trên bến dưới thuyền, những xe thồ, người gồng gáng chở hàng xuống bến, nồi niêu chất đầy trên các ghe lớn ghe bé. Nghe đâu hàng gốm Tri Tôn không chỉ có mặt ở hầu hết các tỉnh miền Tây mà còn ngược lên Tây Ninh, sang cả Campuchia, đủ sức cạnh tranh với sành sứ truyền thống vốn rất nổi tiếng của quốc gia láng giềng này. Mặt hàng cũng là những đồ gia dụng quen thuộc như nồi niêu, trã, cà ràng (một loại bếp lò), ống khói cho những hộ nấu đường thốt nốt. Gốm Tri Tôn có uy tín và ăn khách suốt nhiều thể kỷ, ngoài kỹ thuật “gia truyền”, tạo dáng bắt mắt, thế mạnh chủ yếu ở chất đất và kỹ thuật nung.

Trang trí họa tiết trên gốmTrang trí họa tiết trên gốm

Đất làm gốm được khai thác ở dưới chân ngọn đồi Nam Quy, cách ấp An Thuận chừng hai cây số. Đây là một loại đất sét nhuyễn, mịn, màu xám và theo kinh nghiệm của người làm nghề lâu năm đây là đất thích hợp nhất cho gốm. Ngoài đất sét Nam Quy, không còn nơi nào trong vùng có đất thích hợp để An Thuận làm gốm. Đất mang về được ủ một thời gian sau đó giã mịn, loại bỏ hết sạn, sỏi, tạp chất và làm cho mịn trước khi chế biến. Sau khi đất được sàng lọc kỹ, người thợ trộn với nước theo một tỷ lệ mà chỉ có kinh nghiệm lâu năm mới điều hoà được nước và đất thích hợp sao cho đất dẻo mà không nhão, dính kết mà không khô. Trông thì đơn giản thế, nhưng bí quyết gốm Tri Tôn có lẽ nằm ở trong cái đơn giản mang tính kinh nghiệm nghề nghiệp này đây.

Điểm đặc sắc trong nghề gốm Tri Tôn là không dùng bàn xoay hoặc ứng dụng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào. Đơn thuần chỉ bằng tay với kinh nghiệm mang tính bẩm sinh. Sau khi nhào nặn công phu đất, người thợ đi vòng quanh vật nặn để đắp, bồi, xoa, vuốt. Thoạt đầu là tạo dáng cơ bản, sau đó chỉnh sửa uốn nắn cân đối hình dạng sau cùng là xoa mịn mướt bề mặt, có những mặt hàng cầu kỳ cần tới hoa hình thì dùng bàn in trang trí theo những hoa văn do các nghệ nhân tạo nên. Trong sóc Phnom Pi, hầu như nhà nào cũng nặn nồi, nặn lu, chum vại. Trẻ em đập tơi đất, thanh niên nhào nhuyễn, người kinh nghiệm thì nặn đồ vật. Hầu hết người đang nặn gốm ở trong sân hay sau vườn là phụ nữ. Đó là điều khác với những làng gốm mà tôi đã từng thấy ở những làng gốm phía Bắc. Họ làm chuyên cần, nhẫn nại và đặc biệt là rất ít nói. Thỉnh thoảng nghe rõ tiếng bồm bộp, đắp vỗ vào eo bình của những bàn tay. Còn những ngón tay sần sùi gân guốc thì dẻo quánh xoa vuốt , lướt quanh miệng bình. Những cái vò cái lu đựng nước, không có hình mẫu nào mà hình dáng cứ hiện dần lên, đều tăm tắp. Bốn năm người phụ nữ lặng lễ đắp đất, chuốt eo, nắn miệng bình và bốn năm cái chum như trong một cái khuôn đúc ra. Hỏi bà con về kinh nghiệm. Họ chỉ cười, “mình không biết nói đâu”.

Phơi gốm

Sau khi hoàn thiện hình dáng, chuốt bóng mặt ngoài và in xong hoa văn, gốm mộc được đem phơi kỹ qua nhiều ngày nắng nỏ rồi mới đưa vào nung. Người Khmer không xây lò. Hàng mộc được xếp lớp lớp trên sân hoặc khu đất phẳng trong vườn nhà , chất rơm đều trên bề mặt, nung cho đến “độ chín” rồi mới qua giai đoạn ủ. Nếu theo quy trình công nghệ, mỗi giai đoạn được tính bằng giờ, lò nung được kiểm tra nhiệt độ, nhưng với người Tri Tôn, tất cả đều thông qua kinh nghiệm. Khi đã qua ủ, gốm hiện lên màu đỏ nhạt, nâu hoặc vàng đậm. Hàng thành phẩm không cần mang đi bán xa. Các thương lái đã quen đường, quen chủ. Họ đến từng sân từng vườn và thường là mua cả lố, chuyên chở ra bến sông, xếp lên ghe. Từng ghe nặng nề nối đuôi nhau rời bến, đến với các chợ miền Tây lục tỉnh. Xét về giá trị kinh tế, ngày nay nghề làm gốm Tri Tôn thu nhập không cao bằng một số ngành nghề khác. Cũng có một số người trong sóc chuyển nghề và một số nữa thì vẫn theo đuổi nghề xưa như một thói quen yêu nghề và muốn giữ lại nét truyền thống của Tổ Tiên. Gần đây có một số chuyên gia văn hoá và lịch sử nước ngoài, số đông là người Nhật đã tìm về Tri Tôn để nghiên cứu, tìm hiểu làng nghề lâu đời này. Bảo tàng văn hoá-dân tộc học của Trung ương và một số địa phương đã sưu tầm và nghiên cứu nghề gốm của người Khmer Nam Bộ, của người Chăm và một số dân tộc anh em khác, coi đây không chỉ là một nghề sinh sống mà là một trong những di sản văn hoá đặc sắc và lâu đời bậc nhất của dân tộc.

Theo vanhoamientay

Doanh nhân Nguyễn Thị Đẹp - Người thổi "Hồn" cho hoa


Bước vào không gian trưng bày các sản phẩm thủ công của doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh, bất cứ ai cũng sẽ có cảm giác như lạc vào thế giới sắc màu với những sản phẩm nghệ thuật độc đáo từ hoa khô.Những vật liệu tự nhiên dưới bàn tay khéo léo của người thợ lành nghề, đã hình thành nên các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc như: bông hoa, giỏ hoa, quả cầu thủ công… khẳng định tên tuổi của Thảo Minh và góp phần tôn vinh nét văn hóa đặc sắc làng nghề Việt Nam


Trăn trở đi tìm sự bất tử cho hoa

Hoa không chỉ tượng trưng cho sắc đẹp thiên nhiên, mà ở nó người ta còn cảm nhận được tình cảm trong sáng, thư thái, thánh thiện, và cả sự chân thành. Thế nhưng, quy luật tự nhiên, khiến con người không thể lưu giữ vẻ đẹp tự nhiên của bông hoa, loài hoa mình yêu thích. Để một bông hoa được “sống” trái với quy luật của tạo hóa không phải là điều đơn giản. Không ít nghệ nhân bỏ công sức, tiền bạc đi tìm lời giải cho sự bất tử của nó. Và từ đây nghệ thuật làm hoa khô, một phương pháp giúp những bông hoa chống lại quy luật nở - tàn của trật tự tự nhiên đã ra đời.

Xuất phát từ tình yêu cái đẹp và nhu cầu thị hiếu của xã hội hiện đại, chị Nguyễn Thị Đẹp, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh đã tạo nên những sản phẩm hoa khô độc đáo từ thiên nhiên. Những bông hoa tươi quyến rũ đầy màu sắc, qua bàn tay của người thợ lành nghề đã trở thành những đóa hoa bất tử. Sản phẩm hoa khôThảo Minh không bị khô cứng, mà căng tràn nhựa sống, lung linh khoe sắc dưới ánh nắng mặt trời như một đóa hoa tự nhiên tươi đẹp. 

Theo chia sẻ của chị Nguyễn Thị Đẹp thì để có được những bông hoa “bất tử”, nhưng vẫn giữ được nét đẹp tự nhiên của loài hoa, ngoài cái tâm yêu nghề phải cần có kĩ thuật và kinh nghiệm. Trước đây, do tự nghiên cứu các phương pháp làm hoa khô, chị cũng đã nhiều lần thất bại, các cánh hoa sau một thời gian bị đổi màu, rụng phấn, mất đi vẻ đẹp tự nhiên. Nhưng cũng chính từ những lần thất bại đó, chị đã không ngừng nản chí. Chị đi nhiều nơi, học hỏi nhiều người để tìm ra phương pháp biến những bông hoa đã chết ấy thành đóa hoa “sống”. Đó là muốn hoa không héo thì tưới nước cho hoa. Chỉ có điều nước chẳng thể ở lâu, chị dùng hóa chất đuổi nước, chiếm chỗ của nước, sấy khô, rồi mang ra phơi nắng để hoa thụ được khí trời, bông hoa sẽ có mùi của nắng, gió, tự nhiên như một bông hoa tươi căng tràn sức sống. Đặc biệt, sản phẩm hoa khô Thảo Minh không bị rụng phấn, rơi lá hay bị tác động bởi nhiệt độ thời tiết. Hương hoa thơm nhẹ dịu, thoảng thoảng trong không gian giúp con người cảm nhận được sự khoan khoái, hưng phấn trước vẻ đẹp của những đóa hoa “bất tử”. 

Đến với sản phẩm hoa khô của Doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh, chúng ta có nhiều sự lựa chọn cho sở thích của mình. Từ những bình hoa lớn trang trí cho không gian rộng như: phòng khách, đại sảnh…đến những lẵng hoa nhỏ nhắn, xinh xắn để trang trí góc không gian nhỏ như phòng ngủ, bàn làm việc…Đặc biệt đối với những người thích lưu giữ lại kỉ niệm thì việc chọn lựa một món quà bằng hoa khô thương hiệu Thảo Minh cho những ngày trọng đại như: Sinh nhật, ngày cưới, tình yêu…thì hoàn toàn hợp lý. Hoa khô tượng trưng cho vẻ đẹp trường tồn, sự vĩnh hằng, món quà sẽ được lưu giữ mãi theo thời gian, sẽ không tàn phai theo năm tháng.

Từ những năm đầu thành lập đến khi tạo dựng được thương hiệu hoa khô Thảo Minh trên thị trường, sản phẩm mang tính nghệ thuật này luôn đáp ứng được thị hiếu của người yêu hoa trong nước. Không chỉ thế, nhờ những thiết kế tinh tế, cầu kì đẹp mắt mà các sản phẩm hoa khô của doanh nghiệp Thảo Minh đáp ứng được sự khó tính, cầu thị của thị trường nước ngoài như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản…Mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp trong giai đoạn tới chính là mở rộng thị trường xuất khẩu sang một số nước lớn như: Hàn Quốc, Đài Loan, Anh, Pháp… Ngoài mục tiêu quảng bá thương hiệu, sản phẩm hoa khô Thảo Minh mong muốn quảng bá hình ảnh, tinh hoa làng nghề truyền thống, văn hóa, bản sắc của dân tộc Việt Nam đến bạn bè thế giới. 

Đặc biệt, trong nhiều năm liền, nhờ những đóng góp tích cực với các hoạt động xã hội Doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh nhận được nhiều bằng khen, bằng chứng nhận như: Giấy công nhận Doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh là thành viên của Hiệp hội làng nghề Việt Nam (năm 2008), Bằng chứng nhận sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh hoa làng nghề Việt Nam (năm 2008), chứng nhận sản phẩm uy tín chất lượng (2012)…Đối với cá nhân nữ doanh nhân Nguyễn Thị Đẹp, chủ Doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh thì nhận được nhiều bằng khen của các cơ quan quản lý như: Bằng chứng nhận là Nghệ nhân làng nghề Việt Nam (năm 2008), bằng khen Nghệ nhân hoa khô TP Hồ Chí Minh - đã đóng góp tích cực cho triển lãm và lấy ý kiến nhân dân về Quốc hoa Việt Nam (năm 2011), bằng chứng nhận giải thưởng sáng tạo kiểu dáng sản phẩm Golden – V (năm 2006), Bằng chứng nhận Doanh nhân văn hóa “Nhân – Tâm – Tài – Trí – Tín” (năm 2014)…

Chị Nguyễn thị Đẹp (ngồi thứ hai bên phải) đang kết hoa cùng mọi người

Nữ doanh nhân nâng đỡ nhiều số phận người

Được xã hội tôn vinh là “người phụ nữ nâng đỡ nhiều số phận khó khăn”, chị Nguyễn Thị Đẹp, chủ Doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh đã giúp đỡ nhiều phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn vào làm việc tại cơ sở của mình. Theo chị Đẹp thì 50% lao động làm việc tại cơ sở của chị là người dân nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt như: người khuyết tật, người cơ nhỡ…được tạo cơ hội để có thu nhập, tự mình nuôi sống bản thân bằng sức lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Hằng năm doanh nghiệp đào tạo nghề cho gần 200 phụ nữ nghèo, với mức thu nhập 2 triệu đồng/tháng. Ngoài ra chị Đẹp còn giúp người dân nghèo biết cách tổ chức sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm do mình sản xuất. Không chỉ thế, tận dụng những phế thải từ nông nghiệp, công nghiệp như, túi nilon, bìa caton… dưới bàn tay của những người thợ lành nghề đã trở thành những sản phẩm tinh tế, đẹp mắt, mang lại nguồn lợi nhuận kinh tế cao. Các sản phẩm đó là giỏ hoa kết bằng bìa caton, hoa giả bằng nilon, vật trang trí bằng giấy báo… góp phần rất lớn vào phong trào bảo vệ môi trường nông thôn.

Nhờ những đóng góp tích cực cho các hoạt động xã hội nhân đạo, doanh nhân Nguyễn Thị Đẹp được xã hội vinh danh là “doanh nhân có nhiều đóng góp trong hoạt động khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp năm 2008”. Đặc biệt, các chị em làm việc tại cơ sở gọi chị là “chị hai”, người chị cả chèo lái con thuyền Thảo Minh bước đi đúng hướng và cũng là chị cả bao bọc những hoàn cảnh, số phận người phụ nữ không may mắn, bất hạnh.

PV: Hồng Liên
VHDN-PTNCNVN

 

Kết mối với chúng tôi

Người xem

Liên hệ

Name

Email *

Message *

Video lưu trữ

Đăng ký cập nhật bài mới