Gốm sứ mỹ nghệ việt nam trên thi trường thế giới

Dù muốn hay không, các làng nghề gốm cũng đang ở trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thị trường của sản phẩm gốm sứ hiện nay là thị trường rộng lớn của 150 nước thành viên của WTO và khách hàng tiềm năng có thể thuộc hàng trăm dân tộc và nền văn hóa khác nhau.

Phố đàn Nguyễn Thiện Thuật- Làng đờn quận 4.

Ở Tp.HCM có một con đường được nhiều người gọi là phố đàn, đó là con đường Nguyễn Thiện Thuật nằm trên địa bàn quận 3. Những cửa hàng này có cái thâm niên đã mấy chục năm, nhưng có cái cũng chỉ mới mở vài ba năm với những cái tên như: Dung đàn, Guitar gỗ, Ngọc Hồ, Bình Guitar...

Doanh nhân Nguyễn Thị Đẹp - Người thổi "Hồn" cho hoa

Bước vào không gian trưng bày các sản phẩm thủ công của doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh, bất cứ ai cũng sẽ có cảm giác như lạc vào thế giới sắc màu với những sản phẩm nghệ thuật độc đáo từ hoa khô.Những vật liệu tự nhiên dưới bàn tay khéo léo của người thợ lành nghề, đã hình thành nên các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc như: bông hoa, giỏ hoa, quả cầu thủ công

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hữu Hạnh: Những bức tranh thêu gây hai niềm rung cảm

Ai là con gái Đà Lạt ít nhiều cũng biết đan móc, thêu thùa, vá may; chị Nguyễn Thị Hữu Hạnh cũng vậy, từ nhỏ đã quen thuộc với đường kim mũi chỉ trên những chiếc khăn. Được mẹ khen khéo tay, thêu đẹp, chị thêm thích thú với công việc.

Làng nghề gốm người Khmer Nam bộ

Điểm đặc sắc trong làng nghề gốm Tri Tôn là không dùng bàn xoay hoặc ứng dụng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào. Đơn thuần chỉ bằng tay với kinh nghiệm mang tính bẩm sinh.

30 December 2014

Làng nghề bánh gai Ninh Giang


Lịch sử và truyền thuyết về làng nghề

Ngược dòng lịch sử, thời Lý-Trần, Ninh Giang là miền đất thuộc phủ Hạ Hồng, thời thuộc Minh thuộc phủ Tân An, đến thời Lê lại đổi thành phủ Hạ Hồng. Phủ Hạ Hồng gồm các huyện Ninh Giang, Thanh Miện, Tứ Kỳ (tỉnh Hải Dương) và Vĩnh Bảo (Hải Phòng). Thị trấn Ninh Giang là trụ sở của huyện Đồng Lại thời Lê Sơ. Đến thời Quang Thuận (1460 -1469) đổi thành huyện Vĩnh Lại thuộc phủ Hạ Hồng. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, phủ Ninh Giang được chia làm 4 huyện Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ và Vĩnh Bảo. Thời Pháp thuộc thị trấn Ninh Giang được nâng cấp lên thành thị xã Ninh Giang, tỉnh Vĩnh Ninh. Năm 1979 huyện Ninh Giang hợp nhất với huyện Thanh Miện thành huyện Ninh Thanh. Năm 1996 huyện Ninh Giang được tái lập, trụ sở huyện đặt tại thị trấn Ninh Giang.

 Làm Bánh

Lịch sử nguồn gốc của nghề làm bánh gai Ninh Giang có từ bao giờ thì đến nay cũng chưa tìm thấy tài liệu nào ghi chép. Đi tìm hiểu về lịch sử nghề làm bánh gai Ninh Giang, chúng tôi đã gặp gỡ khá nhiều các cụ cao tuổi ở thị trấn Ninh Giang, thì đều được kể lại với dạng truyền thuyết như sau:
Ngày xưa có hai vợ chồng nông dân nghèo, vào một năm đói kém, mất mùa, thiếu ăn họ phải đi tìm các loại lá cây mọc tự nhiên để ăn. Họ đã tìm thấy một loại lá cây mang về nấu cơm ăn thấy dẻo, ngon. Họ bèn hái, thái phơi khô để dành, từ thổi cơm dần dần họ nghĩ ra cách lấy lá đó trộn với bột gạo nếp làm bánh ăn rất ngon và thơm, vừa để được lâu. Sau này các thế hệ con cháu cải tiến từ gói bánh bằng lá chuối tươi, đến gói bằng lá chuối khô, rồi cho thêm một số loại thực vật khác làm nhân bánh, dần dần trở thành bánh gai như hiện nay. Cho nên ở Ninh Giang người ta thường gọi bánh gai là bánh lá gai.

Trải qua những thăng trầm lịch sử, nghề làm bánh gai ở Ninh Giang có lúc sản xuất cầm chừng do nhiều nguyên nhân, nhưng không lúc nào bị thất truyền.

Bánh gai Ninh Giang, Hải Dương

Cơ sở bánh gai Tuyết Nga – một trong những gia đình làm bánh gai lâu năm và ngon nhất vùng Hải Dương. Bà chủ cơ sở sản xuất bánh gai Tuyết Nga cho biết: Từ một cơ sở nhỏ tại khu 2 thị trấn Ninh Giang, hiện nay gia đình bà đã có thêm 2 cơ sở lớn: một cơ sở ở đền Bà Đế (Hải Phòng) và một cơ sở ở Thái Bình. Sản phẩm bánh gai truyền thống của gia đình năm vừa qua đã được đặt hàng để mang sang Mỹ bán. Ngoài việc sản xuất bánh gai truyền thống, gia đình bà còn sản xuất thêm bánh gấc.

Để làm ra những chiếc bánh gai ngon, đạt tiêu chuẩn người thợ phải kỹ lưỡng, công phu trong từng giai đoạn. Gạo là loại đặc sản nếp cái hoa vàng Kinh Môn nổi tiếng cả nước. Mật phải thật ngọt, đun nóng để trộn cho dễ. Lá gai phải là lá gai nếp thì bánh mới dẻo và có mùi thơm. Lá gai được rửa sạch cho vào nồi ninh nhừ, đem rửa sạch rồi muối, ủ bằng đường 2 – 3 ngày. Khi lá đã được muối ngấu, người thợ mới dùng chày giã nát lá, lọc lấy bột mịn rồi đem trộn với bột nếp. Tỷ lệ bột lá và bột nếp sẽ quyết định chất lượng của “lớp áo” bánh gai.

Nhân bánh cũng được chuẩn bị công phu không kém. Mỡ cánh (mỡ cổ lợn) được muối bằng đường thật khéo, sao cho mỡ lợn không còn ngấy, có độ giòn như mứt bí. Hạt sen chế biến sao cho mỗi hạt đều mềm và không nát, còn nguyên hương vị. Bột gạo nếp, bột lá gai được trộn đều với mật để làm vỏ bánh. Khi trộn bột, càng vắt lâu thì bánh càng dẻo càng mềm mại thơm ngon. Người Ninh Giang không luộc bánh gai mà hấp trong khoảng 2 giờ đến khi bánh dậy mùi thơm ngậy đặc trưng. Khi ăn bánh, ai cũng phải ngất ngây với vị ngọt mà thanh, vị ngậy mà không ngán.

Nỗi trăn trở của làng nghề

Bánh gai Ninh Giang ngon là thế, nổi tiếng là thế, nhưng chưa bao giờ hết những nỗi niềm trăn trở.

Ông Nguyễn Thành Vạn, Trưởng Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Ninh Giang, Hải Dương cho biết: Theo thống kê của huyện Ninh Giang, hiện nay ở thị trấn Ninh Giang có gần 100 cơ sở sản xuất bánh gai. Trước đây bánh gai chủ yếu làm ra để biếu tặng trong các ngày lễ hội, tết, cưới xin, giỗ chạp…, nhưng ngày nay, khi sản phẩm bánh gai của làng đã nổi tiếng, khách hàng từ khắp nơi tìm về thu mua bánh gai ngày càng đông. Điều này đã giúp người dân làng nghề có công việc ổn định, cuộc sống được nâng cao. Không những thế, bánh gai còn giúp tạo việc làm cho người lao động ở các xã, vùng lân cận lúc nông nhàn. Đặc biệt, sản phẩm bánh gai Ninh Giang từng tham dự các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật toàn quốc, từng giành được 3 Huy chương Vàng và 1 Huy chương Bạc.

Tuy nhiên, làng bánh gai Ninh Giang hiện gặp nhiều khó khăn do các cơ sở sản xuất bánh gai vẫn duy trì kiểu làm ăn manh mún, lại thiếu vốn, chưa liên kết để tìm đầu ra lâu dài cho sản phẩm và chưa có máy móc công nghệ cao để có thể bảo quản bánh gai được lâu hơn. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng là nỗi lo không chỉ của người dân làng nghề mà còn là nỗi trăn trở của các cấp chính quyền địa phương trong việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sống xanh, sạch, đẹp. Trước thực tế này, tỉnh Hải Dương đang nỗ lực tạo mọi điều kiện để xây dựng thương hiệu cho bánh gai Ninh Giang nhằm phát huy giá trị của loại đặc sản này phục vụ hoạt động du lịch.

Hy vọng một ngày không xa, thương hiệu bánh gai Ninh Giang sẽ được xây dựng thành công, để bánh gai mang nhãn hiệu Ninh Giang đến được gần hơn với du khách và có mặt trên mọi miền đất nước…

Thanh Hiền
http://banhgaininhgiang.com/

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hữu Hạnh: Những bức tranh thêu gây hai niềm rung cảm


BBT: Nhân dịp năm mới, BBT xin đăng lại hai bài viết về Nghệ nhân Nguyễn Thị Hữu Hạnh thay cho lời chúc năm mới đến chị và học trò của chị một năm mới an khang thịnh vượng.

Ai là con gái Đà Lạt ít nhiều cũng biết đan móc, thêu thùa, vá may; chị Nguyễn Thị Hữu Hạnh cũng vậy, từ nhỏ đã quen thuộc với đường kim mũi chỉ trên những chiếc khăn. Được mẹ khen khéo tay, thêu đẹp, chị thêm thích thú với công việc. Lớn lên, Hữu Hạnh thêu phù hiệu, gối cưới, áo dài, rồi thêu chân dung theo yêu cầu của khách đặt hàng như một nghề mưu sinh mà không chọn công việc nào khác. Nghề thêu như cái “nghiệp” quấn lấy chị khó gỡ ra. Vốn có năng khiếu hội họa, chị nghĩ “tại sao mình không tạo ra những bức tranh thêu”, thế là vẽ, rồi thêu; ròng rã hàng tháng trời, cuối cùng những bức tranh thêu tay đầu tiên cũng ra đời. Năm 1990, tại triển lãm nghề truyền thống được tổ chức tại Hà Nội, thành phố Đà Lạt đã mang tranh thêu Hữu Hạnh tham dự và những tác phẩm của chị nhanh chóng chinh phục được người thưởng lãm.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hữu Hạnh

28 December 2014

Rước nghệ nhân vào bảo tàng


Lặng lẽ ngồi tráng mì Quảng ở một góc nhỏ trong Không gian nhà VN tại H.Điện Bàn (Quảng Nam), bà Lương Thị Thi giờ được biết đến với danh hiệu “nghệ nhân văn hóa nghệ thuật ẩm thực làng nghề” mà Hiệp hội Làng nghề VN vừa công nhận hồi tháng 11.2014.

Nghệ nhân Lương Thị Thi sau 40 năm gánh mì Quảng bán dạo đã tìm được chốn “dừng chân” - Ảnh: H.X.H

Cách đó không xa, có người đàn ông cần mẫn xay bột bên chiếc cối xay đá quen thuộc. Một khung cảnh thanh bình mở ra không gian riêng biệt cho mì Quảng, một trong 12 món ăn VN được Tổ chức Kỷ lục châu Á công nhận đạt giá trị ẩm thực châu Á.

Ít ai biết người phụ nữ 67 tuổi này từng trải qua quãng thời gian ngót 40 năm gánh mì Quảng đi bán rong khắp các ngõ quê, thậm chí đón xe đò ra Đà Nẵng để bán dạo. Dù mì Phú Chiêm (xã Điện Phương, H.Điện Bàn) mà gia đình bà Thi lưu giữ, truyền nghề qua 2 đời đã quá nổi tiếng, nhưng sẽ rất khó “nhận diện” khi bà vẫn cứ bán dạo ngoài đường chứ không phải trình diễn kỹ thuật trong không gian đặc trưng như bây giờ.

Công ty CP nhà VN (Vinahouse) vừa vinh danh tổng cộng 13 nghệ nhân, thợ giỏi làng nghề Quảng Nam hồi đầu tháng 12.2014. Họ đến từ các làng nghề mộc danh tiếng Văn Hà, Phú Ninh; Kim Bồng, Hội An hoặc nổi tiếng trên lĩnh vực ẩm thực như bê thui cầu Mống, mì Quảng… do chính Vinahouse tuyển mộ, sử dụng, lập hồ sơ đệ trình và được Hiệp hội Làng nghề VN xét duyệt hồ sơ cùng đợt. Vinahouse quy tụ nhiều kíp thợ như đội thợ làng Mỹ Xuyên (Huế), Thạch Thất (Hà Tây)… và đương nhiên không thể thiếu các nghệ nhân xứ Quảng. Họ trở thành điểm nhấn, làm sinh động cho Bảo tàng Kiến trúc nhà cổ VN nằm trong lòng Không gian nhà VN: vừa trực tiếp sản xuất, đào tạo nghề, vừa phục vụ loại hình tham quan trải nghiệm.

Lê Văn Vĩnh, ông chủ trẻ 34 tuổi của Vinahouse, đã tìm mọi cách để rủ rê và “rước” các nghệ nhân về với bảo tàng. “Tôi cam kết với một chị 45 tuổi tài giỏi trên lĩnh vực ẩm thực là sẽ được công ty hợp tác đến năm… 80 tuổi. Khi già yếu thì làm cố vấn kỹ thuật cho các nghệ nhân trẻ, không phải lo. Có thể chúng tôi trả lương không nhiều, nhưng ổn định, lại đảm bảo các chế độ chính sách và cam kết sử dụng kinh nghiệm khi về già”, Lê Văn Vĩnh nói. Lão nghệ nhân Đinh Thẩm, người duy nhất nắm giữ bí quyết làm bàn xoay ma thuật của làng mộc Văn Hà, cũng nhận lời cố vấn cho Bảo tàng Kiến trúc nhà cổ VN.

Nhìn các nghệ nhân Phạm Thị Nở, Hà Thị Ngọc Bích… thoải mái ngồi tráng mì hay các nghệ nhân Trần Thị Thu Phong, Lê Thị Hoa đứng trong lồng kính chế biến món bê thui Cầu Mống, có thể hình dung được sự khác biệt với những ngày họ chưa được ghi nhận tài năng khi chỉ loanh quanh ở nhà, sáng bán mì, trưa phơi lúa, chiều tất tả ra đồng. Nhóm nghệ nhân điêu khắc, phục chế nhà cổ xứ Quảng cũng không phải lang thang theo các công trình thi công tản mác. Số lượng nghệ nhân được Vinahouse “chiêu mộ” sẽ còn tăng thêm khoảng 30 người cho các dự án khu phố Việt, khu làng nghề truyền thống đang thực hiện tại xã Điện Dương (H.Điện Bàn).

Hứa Xuyên Huỳnh
thanhnien.com.vn

Làng nghề tất bật vào Tết


(THO) - Đến các làng nghề trong tỉnh vào những tháng cuối năm, chúng tôi thấy các hộ sản xuất, kinh doanh đang tất bật sản xuất cho những đơn hàng được đặt trước, hộ nào cũng muốn tranh thủ thời điểm này để tăng thêm thu nhập.

Công nhân Công ty TNHH Quốc Đại (xã Hoằng Thịnh, huyện Hoằng Hóa) hoàn thiện sản phẩm chao đèn lồng.

Chúng tôi đến phố Bà Triệu, phường Trường Thi, TP Thanh Hóa gặp bà Đỗ Ngọc Châu  gần 80 tuổi đang giúp con cháu phơi hương, bà cho biết: Vào dịp cuối năm, đơn hàng đặt nhiều nên cả gia đình đều tích cực làm việc, những lao động khỏe mạnh thì nhào bột, se hương, còn người già và trẻ nhỏ thì tranh thủ làm những công việc nhẹ nhàng. Anh Nguyễn Minh Đức thấy mẹ trò chuyện với chúng tôi cũng cho biết thêm: Nghề làm hương không nặng nhọc nhưng đòi hỏi người làm phải chịu khó, ở đây các cụ đã gắn bó cả đời với nghề, nên ai cũng tâm huyết. Từ đầu tháng 11 đến nay, gia đình anh đã nhận được 15 đơn hàng, với tổng số lượng lên tới mười lăm vạn hương nên cả gia đình từ già đến trẻ ai cũng có việc.

Ở làng Quảng Xá, phường Đông Vệ, TP Thanh Hóa, các hộ dân làm bánh đa nem cũng đang tất bật, hối hả sản xuất cho những đơn hàng vào Tết. Theo  tìm hiểu của chúng tôi, bánh đa nem nơi đây được sản xuất hoàn toàn bằng thủ công, nên vừa dẻo, vừa dai, khi rán bánh rất giòn, vì vậy thương hiệu bánh đa nem Cầu Bố luôn được thị trường tin dùng. Vào những tháng cuối năm, đơn hàng nhiều nên gia đình nào cũng tăng công suất lên gấp 2 đến 3 lần so với ngày thường mà không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường. Hiện tại, mỗi gia đình  sản xuất khoảng 1 vạn bánh đa nem/ngày.

Tại làng Cốc Hạ, xã Đông Hương, TP Thanh Hóa, thời điểm này tuy chưa phải là thời gian cao điểm của nghề làm nem, giò, chả, nhưng các hộ dân cũng khá tất bật cho việc tìm nguồn nguyên liệu ngon, sạch, bảo đảm chất lượng cho sản phẩm của gia đình vào dịp cuối năm. Trao đổi với chúng tôi, anh Nguyễn Bá Đốc, phố Ba Tân, cho biết: Nhiều ngày nay, anh phải trực tiếp đến các huyện miền núi đặt lợn của các hộ gia đình để lấy nguyên liệu bảo đảm chất lượng cho việc sản xuất vào Tết; đồng thời, đặt tiền trước cho những hộ cung ứng lá chuối gói nem, giò nhằm tránh việc cháy nguyên liệu vào thời điểm cuối năm như những năm trước. Anh cho biết thêm: Hiện tại, cơ sở của gia đình sản xuất bình quân từ 3.000 đến 3.500 nem chua/ngày, nhưng vào thời điểm cuối năm và đầu năm số lượng sản xuất thường tăng gấp 3 - 4 lần, nên mọi thứ cần được chuẩn bị sẵn sàng.

Đến xã Hoằng Đạt (Hoằng Hóa), mặc dù thị trường có vẻ trầm lắng, song các hộ làm nghề vẫn đang tích cực sản xuất, bởi theo như một số ông chủ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở đây cho biết: Sản phẩm nghề mộc, nhất là mộc dân dụng thường không có đơn hàng đặt trước mà đa phần các cơ sở đều đoán được tâm lý của người tiêu dùng mà đi trước, đón đầu, bởi thông thường vào thời điểm cuối năm, nhiều lao động đi làm ăn xa về, tích cóp được một số tiền nên muốn mua sắm thêm vật dụng trong gia đình để đón Tết và trang trí trong nhà. Vì vậy, hiện tại các cơ sở đang tăng cường sản xuất để có đủ các mặt hàng cũng như chủng loại phục vụ nhu cầu thị trường dịp Tết.

Đến các làng nghề, được tận mắt chứng kiến các hộ làm nghề đang đẩy mạnh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán, chúng tôi  thấy dường như xuân đang về. Hy vọng năm nay xuân về không những đem theo niềm vui của sự đoàn viên mà còn đem theo sự phồn thịnh, sung túc cho các làng nghề và mỗi hộ dân làm nghề.

Bài: Hương Thơm, ảnh: Phan Nga
Báo Thanh Hóa

26 December 2014

Nguyễn Hữu Thạo - Người thổi hồn tượng Thánh


Nguyễn Hữu Thạo sinh ra và lớn lên tại Hải Dương, anh theo học trường Cao Đẳng Nghề CBG TW khóa học 1991-1993 đạt bằng đỏ, tốt nghiệp loại giỏi. Với lòng đam mê nghệ thuật, yêu nghề và tính hiếu kỳ muốn tìm tòi khám phá về môn nghệ thuật Điêu khắc gỗ, anh  đã không ở lại trường làm Giáo viên khi được đề cử mà anh rời trường vào Thành Phố Hồ Chí Minh sau khi đã tốt nghiêp, bắt đầu một cuộc sống tự lập từ đây. Phải đối mặt bao gian lan vất vả kiếm sống để thực hiện ước mơ hoài bão của mình anh đã đi làm thuê cho nhiều ông chủ,  khác với những người thợ làm công ăn lương khác đối với họ nhu cầu thu nhập phải cao, công việc thì nhàn hạ nhưng anh Hữu Thạo  thì chịu đựng và hi sinh tất cả để đạt được mục đích học hỏi và tôi luyện tay nghề về lĩnh vực nghệ  thuật Điêu khắc Gỗ. 


Mỗi lần thay đổi chỗ làm mới là một lần vất vả, bỡ ngỡ, thời gian thì trôi đi còn anh ở lại tại Sài Gòn với những kiến thức đã học được cùng với số vốn đã dành dụm bao năm tháng vất vả anh quyết định thành lập Cơ sở Điêu khắc Gõ Hữu Thạo. Với mục đích là để khẳng định mình về một môn nghệ thuật mang sắc thái mọi đường nét của riêng Hữu Thạo chính đường nét nghệ thuật Công Giáo mới mẻ này đã được thị trường trong nước chấp nhận và nhận được sự  ủng hộ của khách hàng trong nước và nước ngoài. Song song đó anh áp dụng những kiến thức ở trường đã học được kết hợp kiến thức ngoài đời đã truyền dạy cho nhiều lớp học trò. Hiện nay nhiều học trò đã đứng đầu nhiều xưởng sản xuất vừa và  nhỏ. Cho tới nay có được những thành qủa về tài  chính cũng như khẳng định sản phẩm của mình trên thương trường trong nước cũng như thị trường quốc  tế.

Để đạt được những thành quả trên anh đã phải trải qua ba lần gần như phá sản, lần thì do kinh nghiệm còn non trẻ với đồng vốn còn quá ít ỏi, lần thì lại bị đối thủ lớn cạnh tranh khốc liệt bằng mọi hình thức. Lần thì do khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Đúng là quá tam ba bận nhưng không làm nản lòng nay anh đã khẳng định được chính mình tại nơi đất khách quê người. Trải qua gần hai mươi năm nhìn lại một chặng đường đã đi qua nhiều lúc anh tự động viên khích lệ mình bằng những thành qủa đã đạt được là những học trò của mình đã thành đạt có công ăn việc làm và phát triển được ngành nghề mà anh đã truyền đạt cho họ. 


Hiện nay anh đã sáng tác và làm được nhiều những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ có giá trị tầm cỡ quốc tế như tượng đài Đức Mẹ La Vang, hiện nay được an vị tại Trung Tâm Hành Hương Thánh Mẫu La Vang, sản phẩm đoạt giải Tinh Hoa Làng nghề 2009. Mỗi tác phẩm tượng thánh được điêu khắc từ những chất liệu gỗ tự nhiên gần gũi với cuộc sống thường ngày của chúng ta như gỗ Pơ mu, hồng đào, gỗ đỏ, Giáng hương,..ưu điểm của tượng gỗ điêu khắc khi vận chuyển không bị gẫy hay trầy sước, vân gỗ đẹp tự nhiên màu sắc đa dạng, có nhiều loại gỗ quý còn tỏa hương thơm càng tăng thêm phần linh thiêng và toát lên vẻ đẹp thánh thiện.

Những tác phẩm tượng thánh được tạo nên bằng những bàn tay khéo léo của người nghệ nhân cùng với lòng đam mê nghề nghiệp, anh gần như đã gửi chọn lòng đam mê nghề nghiệp của mình vào trong đó, được thể hiện qua đường nét gần gũi của tượng thánh với đời thường. Thành công nhất của anh là những tác phẩm tượng thánh nó có chỗ đứng trong lòng các quý Đức Cha, quý Linh Mục, quý Tu Sỹ và quý Khách. Đặc biệt tượng gỗ có chỗ đứng nơi tôn nghiêm thánh đường và nơi thờ phụng của mỗi gia đình. Doanh nghiệp Hữu Thạo không chỉ sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu qua các nước như: Mỹ, Canada, Ustraylia, Hàn Quốc…

Năm 2011 Hữu Thạo được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam phong tặng Nghệ nhân Làng nghề. Cho tới nay ước muốn của anh rất mong  nhận được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ từ Hiệp hội Làng nghề Việt Nam và Lãnh đạo địa phương để cùng chung sức chung lòng khôi phục và phát triển Làng nghề ngày một vững mạnh hơn.

Thời báo LNV

23 December 2014

Nghệ nhân làng nghề Việt Nam Nguyễn Thị Điểm: Nghề làm kẹo dừa đã trở thành “cái nghiệp”


Trong khuôn khổ Lễ hội Dừa Bến Tre lần thứ nhất, lần đầu tiên tại Bến Tre đã diễn ra lễ tuyên dương danh hiệu làng nghề Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Điểm (thứ 2, từ trái) nhận Bằng vinh danh nghệ nhân

Trong buổi hân hoan đó, Bến Tre được vinh dự có một cá nhân được công nhận danh hiệu: Nghệ nhân làng nghề Việt Nam. Đó chính là bà Nguyễn Thị Điểm - chủ doanh nghiệp tư nhân Thiên Long ở P4, Thị xã Bến Tre. Bà Điểm cho biết:

- Đó vừa là một vinh dự lớn, vừa là một trách nhiệm nặng nề. Bởi Bến Tre có rất nhiều cơ sở sản xuất làm các mặt hàng truyền thống, nhiều nghệ nhân trưởng thành và gắn bó với làng nghề hàng mấy chục năm qua. Tôi là một trong những đội ngũ nghệ nhân ấy, với nhiều tâm huyết làm ra các sản phẩm truyền thống, mang hương vị đậm đà quê hương. Những viên kẹo dừa thơm ngọt, những chiếc bánh phồng béo ngậy nổi tiếng làm hài lòng du khách. Đó là những sáng tạo trong nghệ thuật ẩm thực của các bậc tiền nhân để lại. Chúng tôi chỉ là những người kế thừa, chỉ dám mong cùng với bao người cố giữ  gìn cho hương vị của những đặc sản nầy luôn sống mãi với thời gian.

Bà có thể cho biết đôi nét về cái nghiệp mà mình theo đuổi trong hàng mấy chục năm qua?

- Tôi đến với nghề truyền thống kẹo dừa Bến Tre từ thời còn đi học trường làng. Tôi nhớ lúc đó là năm tôi học lớp đệ thất, tức lớp 6 bây giờ. Ngày nào cũng vậy, cứ hàng ngày đến lớp là bỏ theo trong cặp bịch kẹo dừa do chính tay mình sản xuất thử để bán cho bạn bè và người quen bởi lúc đó tôi vừa đi học vừa làm thuê kiếm tiền. Vậy là kẹo dừa cứ theo tôi suốt những năm tháng gian khổ của thời trẻ. Từ chuyện làm kẹo đơn thuần như là một chuyện kiếm sống trong lúc khó khăn dần dà trở thành một cái nghề thực thụ. Trong xóm tôi nhiều người cũng đi lên như vậy! Và, nó đã trở thành “cái nghiệp” cho đến bây giờ.

Còn bánh phồng, sản phẩm chủ lực của Thiên Long hiện nay?

Tôi biết làm bánh phồng sau kẹo dừa, nhưng bánh phồng thực sự là niềm đam mê, là nỗi ám ảnh với tôi. Những câu hỏi luôn đặt ra là làm sao giữ được hương vị tự nhiên của nguyên liệu mà không dùng hương vị hóa học. Làm sao đảm bảo chất lượng ổn định trong thời gian dài mà không dùng chất bảo quản. Đó cũng là cách giữ gìn những giá trị truyền thống của cha ông mình. Có câu chuyện nhỏ: Một người em tặng cho tôi một cái tách uống trà của Nhật. Cái tách không đẹp lắm nhưng điều ám ảnh tôi là miếng giấy nhỏ kèm theo: Cái tách nầy được làm ra từ một lò gốm mà ở đó ngọn lửa 300 năm nay chưa hề tắt.
     
Có một số ý kiến cho rằng hiện nay do cạnh tranh nên đặc sản kẹo dừa Bến Tre không còn giữ được chất lượng truyền thống như trước đây, bà nghĩ vấn đề nầy như thế nào?

 - Thực ra hiện nay nhiều địa phương khác cũng có thể làm ra kẹo dừa nhưng bằng nguyên liệu đặc sản thì rõ ràng chỉ có Bến Tre là nơi sản xuất có uy tín và chất lượng nhất trên thị trường. Còn vấn đề băn khoăn của người tiêu dùng thì thật khó lý giải. Bởi có nhiều cơ sở làm với nhiều cách pha chế khác nhau, tôi không thể bình luận điều gì. Nhưng riêng về kẹo dừa, bánh phồng, kẹo chuối Thiên Long là những sản phẩm sản xuất rất lâu và chúng tôi luôn trung thành với những công thức nguyên liệu truyền thống kết hợp một số cải tiến nhất định về máy móc thiết bị hiện đại nhằm tăng năng suất và chất lượng. Kẹo dừa được làm bằng nhiều thứ nhưng chủ yếu là phải bằng dừa, bánh phồng mì thì phải làm bằng mì… Mỗi cơ sở có thể có những công thức riêng nhưng không thể khác về những thành phần cơ bản của nó. Bây giờ, ai cũng có thể sử dụng hóa chất dùng trong thực phẩm để bảo quản và tăng thêm hương vị. Tuy nhiên, đó có thể là con dao hai lưỡi, nếu vượt quá ngưỡng cho phép sẽ trở thành độc hại. Nói vậy chứ hiện nay vẫn còn rất nhiều cơ sở luôn giữ chữ tín về chất lượng sản phẩm. Tôi luôn tuân thủ theo các tiêu chuẩn qui định và cam kết sản phẩm Thiên Long không sử dụng chất bảo quản, không sử dụng đường hóa học và các chất khác dùng trong thực phẩm. Tôi có quan niệm riêng của mình, sản phẩm của tôi làm ra từ sự sáng tạo của người đi trước. Không phải nơi nào cũng có được những đặc sản như vậy nên mình phải giữ gìn chất lượng sản phẩm như giữ gìn bản sắc văn hóa vậy!

Gian hàng của Thiên Long tại Lễ hội Dừa Bến Tre Lần thứ I

Bà có chiến lược gì trong giữ gìn và khuếch trương thương hiệu Thiên Long của mình?

- Trước nhất, sản phẩm của Thiên Long phải là những sản phẩm sạch, xứng đáng với sự tin cậy của khách hàng trong nhiều năm qua. Thị trường thì chủ yếu ở các hệ thống siêu thị trong cả nước. Một số xuất khẩu sang thị trường Úc, Hoa Kỳ, châu Âu. Một bí quyết rất đơn giản: Tôi không coi thị trường là chiến trường mà chỉ biết làm hết sức với cái tâm của mình. Không thể đưa đến người tiêu dùng thứ hàng hóa mà ngay cả mình cũng không chấp nhận được. Giữ gìn những giá trị truyền thống trong sản phẩm luôn là phương châm của Thiên Long trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thu Huyền (Thực hiện)
Bentre.gov.vn

Hồi sinh một làng nghề


Tủ thờ Gò Công được nhiều khách hàng tìm hiểu, đặt hàng.

Trải qua bao thăng trầm, có lúc tưởng chừng bị xóa sổ vĩnh viễn, nhưng bằng sự kỳ công, sáng tạo đầy nghệ thuật và sự thủy chung của những người thợ, làng nghề Tủ thờ Gò Công từng bước vững vàng vượt khó; sản phẩm tiêu thụ không chỉ trong nước, mà còn vươn ra thị trường nước ngoài.

Tác phẩm nghệ thuật

Làng Tủ thờ Gò Công nằm nép mình bên quốc lộ 50, thuộc hai ấp Ông Non và Sơn Quy, xã Tân Trung, thị xã Gò Công (Tiền Giang), với diện tích hơn 600 ha. Theo các bậc trưởng thượng, nghề đóng tủ thờ của xóm Ông Non không phải là nghề "bản địa", mà do những dân binh từ miền trung mang vào lúc đi theo Bình tây Ðại nguyên soái Trương Ðịnh đến lập căn cứ chống giặc Pháp trên dải đất Gò Công còn hoang sơ, ngập mặn.

Nghệ nhân Ngô Tấn Ðức (Ba Ðức), gần 80 tuổi, hơn 60 năm trong nghề cho biết: Ông nội tôi là một trong những người đầu tiên được học nghề và đóng thành công chiếc tủ thờ hoàn chỉnh. Hồi đó, sau khi học thành nghề, để chắc ăn, ông nội tôi phải cưa bập dừa nước đóng đi, đóng lại nhiều lần thật thạo rồi mới dám cưa bộ ván gõ, tài sản quý nhất trong gia đình, để đóng một chiếc tủ thờ thực thụ". Ðóng thành công chiếc tủ thờ đầu tiên với vẻn vẹn ba trụ đứng, ông tận dụng số gỗ còn lại trong nhà, và các loại gỗ tạp ở địa phương tiếp tục thực tập và chính thức hành nghề đóng tủ thờ Gò Công. Sản phẩm đầu tay, nay đã gần 200 năm tuổi, đang được lưu giữ, thờ cúng tại thánh thất Cao Ðài thuộc ấp Ông Non.

Từ những chiếc tủ thờ đầu tiên, nhiều người thấy thích, đến đặt. Làng tủ thờ Ông Non ra đời, nghề đóng tủ thờ được truyền hết đời này đến đời nọ và truyền từ trong nhà ra hàng xóm, gây dựng nên danh tiếng tủ thờ Gò Công ngày nay.

Năm 1930, thợ đóng tủ thờ ở Tân Trung đã nổi danh với kiểu dáng Gò Công, mặt trước tủ được chạm hai chuỗi hạt gỗ tròn tiếp nối nhau, gợi hình dáng hai cánh cửa tượng trưng. Ðến năm 1936, tủ thờ được cách tân, mặt trước cẩn đá mài do "thợ Sâm" ở xóm Ông Non thực hiện, tủ được trao tặng bằng khen tại Hội chợ Sài Gòn. Sau Hội chợ, ông Sâm mở cửa hàng lấy tên "Sâm - Sơn Quy" chuyên bán tủ thờ Gò Công ở Sài Gòn nhằm mở rộng thị trường, giới thiệu giá trị chiếc tủ thờ Gò Công.

Lâu nay, người tiêu dùng không chỉ yêu thích tủ thờ Gò Công ở hình thức trang nhã, tôn nghiêm, bền đẹp theo thời gian, mà họ còn xem chiếc tủ như một tác phẩm nghệ thuật. Những chiếc tủ thờ được đóng bằng các loại gỗ tốt như gõ, mun, cẩm lai,... Họa tiết, hoa văn, hình ảnh chạm, cẩn trên mặt tủ, thân tủ đều làm bằng ốc trai, xà cừ, đánh véc-ni bóng lộn. Thân tủ lấp lánh hình ảnh những linh vật, các tích xưa, phong cảnh non sông, tứ quý... Chiếc tủ thờ Gò Công bao gồm 16 chi tiết và phải mất năm kíp thợ riêng biệt (gồm cưa, mộc, cẩn, tiện, sơn) mới ráp thành. Hồi trước để đóng một chiếc tủ hoàn chỉnh một thợ mộc phải làm trong ba tháng. Bây giờ nhờ máy móc và sản xuất theo dây chuyền, chỉ mười ngày là xong. Ðiều đặc biệt nhất của chiếc tủ thờ Gò Công là các mối nối đều sử dụng mộng, chốt để ráp lại vừa khít nhằm mục đích bảo vệ gỗ quý, không hề có cây đinh sắt thép nào đóng vào thân tủ. Giá trị của tủ thờ nằm ở các chi tiết như trụ (là những thanh trang trí thẳng đứng được làm hoàn toàn bằng gỗ quý, chạm cẩn tinh vi), ốc, xà cừ và chất liệu gỗ. Tủ càng nhiều trụ càng đắt tiền bởi phải sử dụng nhiều gỗ quý và xà cừ. Ðể bảo vệ thương hiệu, uy tín, dù sản xuất theo dây chuyền, máy móc hiện đại, thợ đóng tủ vẫn hết sức tỉ mẩn, khắt khe trong từng công đoạn. Những người thợ tiện, thợ cẩn ốc-xà cừ đều có tay nghề cao và hầu hết là người miền trung, miền bắc. Họ kỳ công ngồi hàng giờ để chỉnh sửa từng chi tiết thật nhỏ, từng đường đục, cưa lộng, cẩn, mài... cho đến khi thật sự ưng ý mới thôi.

Phát triển phồn thịnh

Những ai từng quan tâm, mặn mà với làng tủ thờ Gò Công mới thấu hiểu trăn trở của những nghệ nhân, những người thợ luôn thủy chung, quyết gắn bó với nghề. Bởi, suốt nhiều thập niên của thế kỷ trước, làng tủ thờ chìm trong cảnh tiêu điều xơ xác, có những lúc tưởng chừng bị xóa sổ. Lúc đó, hầu hết thợ lành nghề đều bỏ làng đi làm thuê hoặc chuyển mưu sinh bằng nghề khác, chỉ còn những nghệ nhân cao niên vì không thể bỏ nghề của cha ông nên quyết chí bám trụ giữ nghề.

Cột mốc đáng ghi nhớ, là năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới, cũng chính là năm làng nghề thật sự có điều kiện phát triển trở lại. Phó Trưởng Chi cục Phát triển nông thôn (Sở NN-PTNT) Tiền Giang Võ Văn Lập cho biết: Làng tủ thờ Gò Công được khôi phục và từng bước phát triển thịnh vượng là nhờ sự quan tâm của các cấp, nhất là sự hợp tác chặt chẽ giữa các ban, ngành liên quan, chính quyền địa phương cùng những nghệ nhân, những người thợ tâm huyết gây dựng. Ðầu năm 2000, Công đoàn tủ thờ Gò Công được thành lập, tập hợp khoảng 50 cơ sở tham gia. Sau đó không lâu, Nghiệp đoàn tủ thờ Gò Công ra đời, tập hợp tất cả các cơ sở sản xuất, gia công tủ thờ trong vùng gồm 72 hộ; đến năm 2008, Hợp tác xã sản xuất tủ thờ Gò Công được thành lập. Hiện nay làng nghề tủ thờ Gò Công có sự tham gia của ba tổ chức kinh tế - xã hội trên với vai trò làm đầu mối tổ chức sản xuất, đại diện trong mua bán, ký kết các hợp đồng cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.

Ðây là nền tảng giúp làng tủ thờ Gò Công trụ lại, phát triển mở rộng và đứng vững trên thương trường. Chủ nhiệm HTX tủ thờ Gò Công Phạm Văn Nam cho biết: Hiện làng tủ có gần 70 cơ sở tham gia sản xuất, thu hút hơn hai nghìn lao động làm nghề; trong đó, 50% là lao động chuyên, có thu nhập bình quân từ ba triệu đến sáu triệu đồng/người/tháng, đạt mức cao nhất trong các làng nghề của tỉnh. Thị trường tiêu thụ sản phẩm tủ thờ không chỉ dừng lại trong nước mà còn xuất khẩu sang Mỹ, Ca-na-đa, Pháp, Anh, Hàn Quốc và nhiều nhất là sang Ô-xtrây-li-a. Hiện một chiếc tủ thờ Gò Công có giá thấp nhất 10 triệu đồng, bán rất chạy vì phù hợp túi tiền của nhiều người. Tủ thờ bằng gỗ mun giá từ 100 triệu đồng trở lên. Tuy giá "ngất ngưởng" nhưng thợ làm không kịp cung ứng cho thị trường... Trung bình, mỗi năm làng nghề tủ thờ Gò Công xuất xưởng hơn 10 nghìn sản phẩm các loại.

Dịp Tết Giáp Ngọ vừa qua, làng tủ thờ Gò Công xuất xưởng một chiếc tủ theo đơn đặt hàng có giá "đắt nhất" Việt Nam - 750 triệu đồng cho khách hàng ở TP Hồ Chí Minh. Ðây là chiếc tủ được các nghệ nhân đánh giá là một "tác phẩm nghệ thuật mới". Nghệ nhân Ba Ðức, chủ cơ sở Ba Ðức, người trực tiếp ký hợp đồng với khách hàng nói: Năm 2012 tui đóng chiếc tủ đắt tiền nhất cho khách hàng ở TP Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang) trị giá 550 triệu đồng, mà chiếc tủ đó chỉ có cẩn ốc xà cừ ba mặt với 21 cây trụ, còn chiếc tủ trị giá 750 triệu đồng này bản thân tôi trong hơn 60 năm làm nghề cũng chưa hề gặp: bốn mặt tủ đều chạm trổ thật đẹp, cẩn ốc xà cừ theo các tích xưa. Với 30 trụ ở mặt trước, mặt sau, chiếc tủ dù đặt vị trí nào trong nhà cũng đẹp...

Chạm, cẩn hoa văn mặt tủ thờ.

Tủ thờ Gò Công trang nhã, bền đẹp được bài trí tại những nơi trang trọng, tôn nghiêm như Ðền thờ các Vua Hùng ở tỉnh Phú Thọ, Ðền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quê hương của Người ở làng Sen (xã Kim Liên, Nam Ðàn, Nghệ An),... Ðây được coi như những "bảo chứng" để sản phẩm của làng nghề tiếp tục vươn xa hơn nữa.

TẤN VŨ

21 December 2014

Võ Thành Viễn - “Phù thủy” tre bông



Qua bàn tay của ông Viễn, cây tre bông đã được tạo thành những tác phẩm độc đáo.

Ông bảo mình được trời phú, ban cho “kỹ nghệ” để làm ra những tuyệt tác. Suốt ngày cặm cụi bên những ống tre, ông đã dành gần trọn cuộc đời để giữ “hồn Việt” qua từng sản phẩm…

Nặng nợ với cây tre…

Đập vào mắt tôi là căn phòng nhỏ với đủ thứ bề bộn, những ống tre nằm lăn lóc, bụi mạt cưa bám đầy mọi phía. Lau vội chiếc ghế mời khách ngồi, ông trần tình: “Chú thông cảm, làm như mấy cây tre đã ăn sâu vào máu thịt rồi, giờ muốn nghỉ ngơi cũng không được”. Trước mặt tôi là người đàn ông đã 65 tuổi, nhưng trông còn rất minh mẫn, gương mặt lúc nào cũng nở nụ cười tươi, giống như tình yêu ông dành cho cái nghề đang đeo đuổi vậy. Ông tên Võ Thành Viễn (SN 1948, ngụ phường Bình Khánh, TP.Long Xuyên, tỉnh An Giang). Sau khi học xong Đệ ngũ, ông bắt đầu chuyển sang làm hướng đạo sinh. Ngoài những lần tổ chức cắm trại, làm từ thiện..., nhóm hướng đạo của ông còn có những buổi dạy kỹ năng sống cho các em học sinh nhỏ. Ngày đó, bằng những cây tre ông và bạn bè đã làm ra những sản phẩm mỹ nghệ như một cách để hướng dẫn các em nhỏ hòa nhập, yêu mến thiên nhiên.

20 December 2014

Thăm làng nghề thổ cẩm ở Châu Phong


Đến làng nghề ở An Giang, ai nấy đều trầm trồ khi chạm tay vào những dải thổ cẩm đa dạng, nhiều màu sắc, được dệt nên từ đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân.

Nằm dọc hai bên bờ kênh Vĩnh An, đối diện thị xã Châu Đốc là làng Chăm Châu Phong, thuộc thị xã Tân Châu. Đây là ngôi làng cổ, còn mang đậm nét đặc trưng văn hóa Chăm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.


Thời gian dệt được một tấm thổ cẩm kéo dài khoảng 9 ngày hoặc cả tháng. Ảnh: Lâm Chiêu.

Người Chăm xưa có tục “cấm cung” con gái ở tuổi 10 – 12 và bắt ở nhà học cách thêu dệt. Chính vì thế, họ có đôi bàn tay rất khéo léo. Ngày nay, tập tục này không còn nhưng phụ nữ Chăm vẫn luôn giữ gìn nghề truyền thống.

Nguyên liệu chính để dệt thổ cẩm là sợi bông nhuộm chàm và tơ tằm đã nhuộm màu. Phần màu lấy từ nguyên liệu thiên nhiên như mủ cây (klek), vỏ cây (pahud) và trái cây (mặc nưa). Dù màu chủ yếu chỉ gồm xanh, trắng, vàng, đen nhưng luôn tươi sáng và ấn tượng.

Trước đây, một số công đoạn được làm thủ công như nhuộm màu chỉ, dệt vải... Ngày nay, để tiết kiệm thời gian, tơ công nghiệp được sử dụng nhiều hơn. Để khắc phục yếu tố không bền màu và mỏng của chỉ công nghiệp, người Chăm sáng tạo ra nhiều cách thêu, bố trí hoa văn để mỗi sản phẩm làm ra luôn đẹp nhất.

Các họa tiết được thêu chủ yếu là biểu tượng tâm linh, hiện tượng và vật thể tự nhiên, những hình ảnh gần gũi với cuộc sống như các loài động thực vật…. Ảnh: Nguyễn Nhân.

Tấm vải sau dệt được may thành khăn choàng tắm, khúc vải óng ánh sắc màu, xà rông hoa, tơ - áo thổ cẩm, bóp, khăn thêu, hộp đựng nữ trang, túi đeo và đặc biệt là những chiếc khăn buộc tóc rất đẹp, lạ mắt. Ngoài ra, các cô gái Chăm còn dệt icat (một loại khăn làm của hồi môn khi về nhà chồng).

Với vẻ đẹp mộc mạc nhưng không kém phần tinh tế, sang trọng, thổ cẩm Châu Phong ngày càng được nhiều người ưa chuộng.

Lan Thoa
vnexpress.net

Những người “giữ hồn” cho gốm Bàu Trúc


Làng gốm Bàu Trúc ở thị trấn Phước Dân (Ninh Phước) đang trên đà phát triển, mang lại cuộc sống mới cho cộng đồng người Chăm nơi đây. Thế nhưng để “giữ hồn” cho làng nghề truyền thống này cần những con người thực sự tâm huyết…

(NTO) Một ngày cuối năm, trên con đường nối dài được bê-tông hóa, chúng tôi tìm hỏi về nghệ nhân có tuổi nghề lâu nhất ở làng gốm Bàu Trúc. Không nghĩ ngợi anh thanh niên tận tình đưa tôi qua những con hẻm đến nhà cụ Đàng Thị Gia. Sang xuân mới, cụ tròn 75 tuổi và đã có “thâm niên” làm gốm gần 60 năm. Trong ngôi nhà khang trang được điểm thêm những đồ gốm mỹ nghệ do chính cụ làm ra, cụ say sưa kể cho tôi nghe “cái duyên” đưa cụ đến với nghề: “Lúc trước, cha mẹ cũng sống bằng nghề này, âu cũng là “cái nợ cái duyên”. Vốn tính phá phách của những đứa trẻ miền quê, bắt chước những gì người lớn làm, từ đó những cục đất sét trở thành một thứ đầy thích thú với tôi”. Bước vào tuổi 15, cụ đã bắt đầu mày mò làm những vật dụng phục vụ cho cuộc sống: nồi, lò, chậu… Cụ đã “chung sống” với những miếng đất sét vô tri ấy hơn cả nửa đời người. Bằng niềm tin, sự say mê đầy sáng tạo, cụ là một trong “cây cổ thụ” giữ lại cái nghề truyền thống của tổ tiên. Cụ còn là “giảng viên” các lớp dạy làm gốm do Sở Công Thương tổ chức.


Nghệ nhân Đàng Thị Gia. Ảnh: Minh Quốc

Khi sắp ở tuổi xế chiều, cụ tiếc nuối vì không thể tiếp tục cống hiến cho nghề của ông bà. Dù vậy cụ vẫn dõi theo bước chân 11 người con của cụ. Đặc biệt, người con thứ hai đang miệt mài bước tiếp “con đường đất sét” ấy - ông Đàng Xem, được người trong vùng gọi là “dân ngoại đạo”, “báu vật”. Xưa nay, chỉ có phụ nữ Chăm mới làm gốm, ông “lấn sân” và gặt về những thành công. Bàn tay nhẹ nhàng uốn nắn những đường cong trên phù điêu vũ nữ Apsara, ông kể: “ Dù cũng biết làm nghề gốm từ nhỏ nhưng tôi cũng không nghĩ là mình sẽ theo nghề này. Một phần cũng vì mưu sinh cho cuộc sống, dần dà tôi bị cuốn hút vào những vuông đất ấy. Tôi hạnh phúc khi làm ra một tác phẩm, hạnh phúc khi những đứa con tinh thần của mình được khách hàng yêu thích”. Chính nhờ nghề gốm gia truyền này mà gia đình ông trở nên khá giả có của ăn của để.

Nghệ nhân Đàng Xem, “báu vật” của làng gốm.

Đang miệt mài bên chiếc bàn xoay, nắn nón từng cái chậu, chị Đống Thị Lạc mắt nhìn đăm đăm vào hình hài các sản phẩm thô, kể: “Nhà nghèo sống bằng nghề nông, phải nuôi 5 đứa con ăn học nên khó khăn lắm. Sẵn biết sơ về cách làm gốm, mình học thêm rồi đi làm thuê cho các chủ gốm ở đây kiếm thêm thu nhập”. Nhưng trong ánh mắt chan chứa ấy, tôi biết không đơn giản chỉ vì kế sinh nhai, mà tận đáy lòng là cả sự nâng niu cái nghề truyền thống của dân làng.

Gặp bất kỳ ai sinh ra ở làng gốm Bàu Trúc chúng tôi đều nhận thấy một điểm chung đó là niềm đam mê với nghề truyền thống của cha ông. Với mong muốn, làng nghề gốm Bàu Trúc luôn trường tồn với thời gian, những người dân nơi đây không ngừng tìm tòi và sáng tạo để làm ra những sản phẩm gốm mới, lạ hơn để lại nhiều dấu ấn trong lòng du khách thập phương.

Minh Khai
Báo Ninh Thuận

19 December 2014

Lễ hội hoa Xuân TP. Sa Đéc năm 2015 quảng bá làng nghề truyền thống và sản phẩm đặc trưng


Với tiêu chí an toàn, lành mạnh, vui tươi, tiết kiệm và thực hiện theo phương châm xã hội hóa, Lễ hội hoa Xuân Sa Đéc - năm 2015 dự kiến sẽ diễn ra với các hoạt động văn hóa nghệ thuật, triển lãm hội chợ - thương mại, các hội thi ẩm thực, chế biến các món ăn làm từ bột Sa Đéc, hội thi trồng hoa đẹp và hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí... mang dấu ấn đặc sắc về những làng nghề truyền thống và con người Sa Đéc hiền hòa thân thiện. Bên cạnh đó, dự kiến xác lập các kỷ lục Việt Nam tại lễ hội bao gồm các món ăn, sản phẩm đặc trưng của thành phố hoa Sa Đéc.

Khách du lịch tham quan nhà cổ Huỳnh Thủy Lê

Được biết, qua hai lần tổ chức Lễ hội hoa Xuân kỳ trước, TP.Sa Đéc đã thu hút trên 500.000 khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và thưởng ngoạn. Đây cũng là địa phương có lượng du khách đến tham quan các di tích văn hóa - lịch sử và làng hoa lớn nhất của tỉnh trong những năm qua.

Theo baodongthap

Nông dân Chợ Lách chuẩn bị mùa hoa kiểng tết Ất Mùi 2015


Hàng năm cứ hẹn lại lên vào khoảng tháng 8, tháng 9 âm lịch trở về sau là những người làm hoa kiểng ở xã Long Thới huyện Chợ Lách lại tất bật chuẩn bị cho một mùa hoa tết, với mong muốn mang về lợi nhuận và góp thêm sắc xuân cho mùa xuân mới.

 Nông dân Long Thới chăm sóc những chậu cúc mâm xôi.

Theo chị Hồ Thị Thoa , người có hơn 3 năm làm nghề hoa nở ở ấp Hòa An cho biết trong mùa hoa tết 2014 vừa qua, hầu hết những hộ làm hoa tết tại địa phương đều thắng lớn. Trong đó có nhiều nguyên nhân: thời tiết thuận lợi, nông dân nắm bắt được khoa học kỹ thuật xử lý cho hoa nở đúng tết, sản phẩm làm ra luôn có mẫu mã đẹp được khách hàng ưa chuộng, từ đó bán được giá cao. Trung bình một hộ sản xuất từ 1 đến 5 ngàn giỏ hoa các loại, sau khi trừ chi phí còn lãi khoảng 30 triệu đồng/hộ.

Phát huy truyền thống của địa phương và thắng lớn trong mùa hoa tết Giáp Ngọ 2014 vừa qua, nông dân xã Long Thới tiếp tục với sản phẩm hoa nở. Qua chuyến khảo sát của Hội Nông dân xã Long Thới cho biết tết Ất Mùi 2015, 648 hộ dân tại các ấp: An Hòa, Hòa An, An Quy, .... sản xuất 230 sản phẩm hoa nở, tăng hơn 15ngàn sản phẩm và 30 hộ so tết Giáp Ngọ 2014; tập trung nhiều ở chủng loại cúc Mâm xôi, Vạn thọ, cúc Hà Lan… trong đó, sản phẩm cúc mâm xôi chiếm hơn 55% tổng số hoa nở trong toàn xã.

Chị Đoàn Thị Chu,ấp Hòa An xã Long Thới, người có hơn 10 năm tham gia làm hoa cúc tết và cũng là một trong số hộ có lợi nhuận khá trong mùa hoa tết 2014 vừa qua, cho biết: " Đối với cây cúc mâm xôi kỹ thuật làm bông cũng không khó vấn đề là đòi hỏi người làm cúc phải thường xuyên theo dõi và quan sát thời tiết và tùy vào từng giai đoạn ngắt cơi đọt để có biện pháp xử lý phân thuốc kịp thời. Có hộ sử dụng cách ngắt 5 cơi đọt, xuống giống trong khoảng thời gian từ mùng 6 đến mùng 10 tháng 6 âm lịch. Riêng tôi chọn cách ngắt 4 cơi đọt xuống giống trong khoảng thời gian từ ngày 24 đến ngày 30/6 âm lịch. Trước khi xuống giống, tôi làm giàn và dùng các loại phân : 5 bao phân chuồng+ 8 bao sơ dừa+ 2bao trấu+ 20kg phân lân+ 2kg thuốc sát trùng hột /2000 giỏ, trộn đều với nhau, đem phơi nắng trước đó 1 tuần rồi mới bỏ con giống xuống. Sau thời gian 3 ngày xuống con giống xịt ngừa bệnh thối rễ và héo xanh, các loại bệnh này thường xảy ra trên cây cúc. Cách 5 đến 7 ngày sịt một lần và thuốc sịt ngừa thay đổi liên tục tránh trường hợp kháng sâu bệnh. Ngoài ra trong thời gian cúc xuống giống được nuôi trong chậu, định kỳ 5 ngày tôi dùng phân bón tưới cho cây loại 30-30-0 hoặc 20-20-15 tỷ lệ 05kg/1000 giỏ, đến khoảng mùng tháng 10 âm lịch giảm lượng phân xuống. Đến giai đoạn gần tết khoảng 20/12 âm lịch khi cúc trổ bông tôi dùng phân NPK 20-10-10 kết hợp phân dơi và phân úc ngâm tưới cho cây, cách này giúp cho bông lâu tàn". Kinh nghiệm này đã giúp cho vườn cúc mâm xôi của chị Đoàn Thị Chu cho hoa đúng tết, tết 2014 vừa qua chị sản xuất 2 ngàn giỏ, giá bán dao động từ 70-80 ngàn đồng/cặp sau khi trừ chi phí chị còn lãi khoảng 40 triệu đồng.

Theo nhận định của những hộ làm hoa nở tại ấp Hòa An xã Long Thới cho biết đến thời điểm này thời tiết tương đối thuận lợi, mùa mưa kết thúc sớm chi phí về phân bón, vật tư nông nghiệp và nhân công ổn định. Hy vọng giá bán tăng cao, nông dân sẽ có lãi.

Riêng tại xã Vĩnh Thành, để đáp ứng nhu cầu thưởng thức hoa xuân của bà con ở khắp các tỉnh thành trong dịp tết Ất Mùi năm 2015, nông dân ở vùng đất Cái Mơn xã Vĩnh Thành ngoài sản xuất các sản phẩm truyền thống của địa phương như : mai vàng, kiểng tắc, hoa nở, ..đã sưu tầm nhiều giống hoa kiểng mới lạ, chủ yếu là hoa treo và kiểng lá để bàn.

Nông dân Vĩnh Thành sản xuất hoa treo chuẩn bị tết.

Theo kết quả khảo sát ban đầu, dịp tết Ất Mùi năm 2015, khoảng 2.500 hộ dân tại 11 làng nghề của xã Vĩnh Thành sản xuất và cung ứng ra thị trường hơn 2,3 triệu sản phẩm hoa kiểng tết. Trong đó tập trung nhiều vào nhóm hàng truyền thống của địa phương như: mai vàng chiếm khoảng 650 sản phẩm, kiểng tắc khoảng 450 sản phẩm, còn lại là sản phẩm hoa nở, có hoa cúc, vạn thọ, hoa treo, kiểng lá để bàn ,...

Hiện nay cùng với nông dân các xã, nông dân làm hoa kiểng ở Vĩnh Thành cũng đang tất bật ở nhiều công đoạn, mong muốn mang đến sản phẩm đạt về chất lượng, mẫu mã đáp ứng nhu cầu khách hàng. Ngoài ra họ đang tập trung khai thác các nguồn vốn để đầu tư sản xuất và tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Tại hội nghị kết nối tiêu thụ hoa kiểng Tết Nguyên đán 2015 giữa nông dân Chợ Lách và Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn diễn ra tại xã Vĩnh Thành ngày 29/10/2014 vừa qua. Nông dân xã Vĩnh Thành đã gặp gỡ và đăng ký  tham gia 180 lô bán hoa xuân tại chợ hoa Bình Điền- Thành Phố Hồ Chí Minh, tăng hơn 100 lô so tết 2014./.

Trúc Ly
Theo Sở NN&PTNT Bến Tre

Làng nghề ven đô giữa mùa hàng Tết: Hiu hắt thị trường đồ “cõi âm”


GiadinhNet - LTS: Chỉ hai tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Ất Mùi. Như mọi năm, thời điểm này, những làng nghề ven đô Hà Nội đã rậm rịch chuẩn bị vào mùa. Song năm nay, đến những làng làm hàng mã, làng bán lá dong, làng làm mứt Tết… không khí vẫn khá im ắng...

Anh Nguyễn Thế Linh: “Năm nay mới chỉ có dăm ba khách quen đến đặt hàng lẻ tẻ chứ chưa có đơn hàng nào lớn”. Ảnh: H.N

Khác với mọi năm, đến thời điểm này, những làng nghề truyền thống sản xuất vàng mã nổi tiếng như Đỗ Xá, Văn Hội (Thường Tín, Hà Nội) vẫn còn im ắng. Thay vì những chiếc ô tô nườm nượp nối đuôi nhau chở hàng đi các tỉnh như mọi năm thì bây giờ, thi thoảng, chỉ có một vài chiếc xe máy đến lấy hàng rồi vụt đi.

Vắng ngắt người mua

Sáng 18/12, phố chợ thôn Đỗ Xá (xã Vạn Điểm, Thường Tín) vẫn im ắng. Đây là khu vực tập trung nhiều nhà làm vàng mã có tiếng tăm của xã. Vào thời điểm đắt hàng, rất nhiều ô tô rồng rắn đỗ trong ngõ chờ bốc hàng. Tuy nhiên, thời điểm này, theo quan sát của PV Báo GĐ&XH, trong suốt buổi sáng chỉ có một chiếc ô tô tải loại 1,25 tấn đến xếp hàng. Các gia đình làm hàng mã vẫn vắng ngắt. Tại một số xưởng, vài nhân công nhẩn nha dán ngựa, chủ yếu phục vụ cho các lễ hầu đồng, tạ mộ cuối năm thay vì làm đồ Tết như mọi khi.

Vừa phết nốt chỗ hồ vào tấm giấy màu để dán ngựa, anh Nguyễn Thế Linh (số nhà 35, phố chợ Đỗ Xá) thủng thẳng đáp chuyện: “Mọi năm vào tầm này, nhà không còn chỗ nào để ngồi. Tuy nhiên, năm nay, chỉ dăm ba khách hàng quen đến đặt hàng lẻ tẻ chứ chưa có đơn hàng nào lớn. Khách mua, chủ yếu chỉ tập trung vào tiền vàng và các chú ngựa loại nhỏ phục vụ cho việc tạ mộ vào dịp cuối năm”.

Linh cho biết, mình sinh ra trong gia đình có 3 đời làm vàng mã. Từ hồi học phổ thông, Linh đã tự học đan khung tre và dán ngựa. Lâu dần, Linh quen tay và trở nên thành thạo. Mỗi con ngựa được Linh đan “xương” nứa chỉ trong tầm 15 phút. Ngựa con khi phủ hoàn thiện giấy màu được bán với giá 35.000 đồng/con. Còn ngựa lớn phải đan “xương” lâu hơn. Nếu không phủ giấy, mỗi con ngựa lớn có giá khoảng 50.000đồng. Nếu phủ giấy hoàn thiện, có gia đình bán ngựa lớn từ 150.000 đồng - 300.000 đồng/con tùy cách dán đơn, dán đẹp và cách trang trí. “Thông thường, các gia đình mua ngựa nhỏ để tạ mộ vào cuối năm. Còn ngựa lớn là các đền, phủ mua về làm lễ. Năm nay chán lắm, đến thời điểm này chỉ bán lẻ tẻ ít con ngựa nhỏ thôi. Chủ yếu là do khách quen đặt chứ chưa có đơn hàng nào như mọi năm”, Linh buồn rầu nói.

Hàng ế người bán

“Tôi hỏi suốt đấy nhưng mấy đại lý vàng mã lớn ở đây, ai cũng bảo năm nay bán hàng chán lắm. Mọi năm tầm này là ô tô tấp nập ra vào nhập hàng. Thế nhưng đến giờ này mà mỗi ngày chỉ có vài ba chuyến xe máy đến lấy hàng thưa thớt”. Đấy là tâm sự của bà Nguyễn Thị Mận, Trưởng thôn Văn Hội (xã Văn Bình, Thường Tín) về tình hình tiêu thụ vàng mã cuối năm. Văn Hội cũng là làng nổi tiếng chuyên “lo Tết cho người cõi âm”. Theo lời của Nguyễn Thế Linh, nhiều gia đình ở Đỗ Xá còn phải đến Văn Hội để nhập hàng. Đây là nơi các đền to phủ lớn từ tận Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh… đến đặt lễ. Không chỉ in tiền vàng, làng Văn Hội nổi tiếng vì sản xuất mã, tượng “khổng lồ” cho các phủ, đền. Tuy nhiên, thời điểm này khi chúng tôi có mặt, nhiều đại lý lớn vẫn đóng cửa im ỉm. Thỉnh thoảng, vài chiếc xe máy chở hàng chạy vụt qua mặt. Trước cửa nhiều xưởng sản xuất, hàng đống mã vừa đan “xương” đang để chỏng chơ.

Bà Mận cho biết, cả thôn có khoảng 75 gia đình làm nghề vàng mã lớn. Nếu kể cả các hộ gia đình nhỏ, có hơn 1.000 hộ làm vàng mã. Trong số đó, khoảng 800 hộ chuyên gói vàng và 10 nhà làm hương. Cả thôn có 10 hộ gia đình đầu tư máy in tiền, 13 máy cắt, có cả máy vót nan nên không còn cảnh trắng đêm làm vàng mã phục vụ Tết như trước đây.

“Những năm trước, cứ tầm tháng 8, tháng 9, người dân ở đây đã phải trữ hàng phục vụ Tết Nguyên đán. Hiện nay, công đoạn nào cũng có máy móc hỗ trợ nên không phải tích hàng cả nửa năm trời nữa. Thế nhưng, lý do chính vẫn là hàng bán chậm quá nên chả ai tích trữ. Mấy năm trước, vào vụ áp Tết như giờ, mỗi đại lý bán khoảng vài chục đàn mã to, tương đương vài chục chuyến ô tô, với cả mấy vạn tiền. Những ngày cận Tết, có nhà thu đến 7 triệu đồng tiền hàng/ngày. Năm nay, thấy các hộ kinh doanh kêu ca lắm. Do kinh tế khó khăn nên phần đa chỉ bán được vàng. Khách hàng chủ yếu mua quần áo và ngựa nhỏ để tạ mộ vào cuối năm chứ mã lớn bán được rất ít”, bà Mận nói.
____________________________________
Vịt uống nước ô nhiễm đẻ trứng màu hồng?
“Máy móc tiết kiệm nhân công nhiều, đỡ bụi bặm nhưng nay ở thôn có hiện tượng một số nhà đóng cửa in giấy tiền, đinh vàng khiến bồi phẩm giấy vàng thải ra rất lớn, đầy nước đỏ, nước xanh. Nước này theo mương làng, thải ra ruộng lúa. Người dân dùng cả nước mương này tưới rau. Thậm chí vịt uống nước bồi phẩm vào, đẻ trứng ra còn có màu hồng hồng(?)”- bà Nguyễn Thị Mận, Trưởng thôn Văn Hội cho biết. Để kiểm chứng, PV đã đến mương nước ở cuối làng và tận mắt chứng kiến nhiều đống đất được nạo vét từ cống lên có màu đỏ quạch, hoặc tím thẫm đang ngổn ngang bên cạnh.
________________________________

Hạnh Nguyên- Hà Phương
Theo GiadinhNet

18 December 2014

Làng hoa Sa Đéc vào mùa hoa Tết Ất Mùi 2015


Thời điểm này, có dịp dạo quanh một vòng tại làng hoa Sa Đéc chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp không khí nhộn nhịp và tất bật của người dân tại đây khi phần lớn các hộ trồng hoa đang chuẩn bị cho vụ hoa Tết Ất Mùi 2015.

Theo thông tin từ phòng Kinh tế thành phố Sa Đéc thì vụ hoa tết năm nay, nông dân làng hoa Sa Đéc xuống giống khoảng 75 hecta trong đó tập trung vào các loại hoa truyền thống như: hoa hồng, các loại hoa cúc (cúc mâm xôi, cúc Đài Loan, cúc tiger, cúc đồng tiền), thược dược, cát tường, vạn thọ… Hiện tại, các giống hoa hồng, cúc mâm xôi, cúc đồng tiền… nông dân đã xuống giống dứt điểm riêng các loại hoa ngắn ngày như cúc tiger, vạn thọ sẽ xuống giống vào đầu tháng 10 âm lịch tới. Nhìn chung, tham gia thị trường hoa Tết năm nay, đa  số nông dân đều ưu tiên cho các loại hoa truyền thống của thành phố.

Cúc mâm xôi - hoa chủ lực được nông dân chọn trồng trong vụ hoa tết Ất Mùi 2015

Anh Trần Thanh Xuân ngụ khóm Tân Mỹ - phường Tân Quy Đông cho biết: “năm nay anh trồng 10 ngàn chậu hoa hồng các loại để tham gia thị trường Tết. Theo anh Xuân, lí do để anh chọn hoa hồng là dễ chăm sóc và quen với  nhiều mối lái mua bán loại hoa này nên anh tiếp tục chọn hoa hồng làm hoa chủ lực bán Tết”. Ngoài ra, lý do quan trọng nhất khiến anh chọn giống hoa này chính là yếu tố thị trường. Anh Xuân cho biết thêm: “Thị trường Tết thường thì hồng bán cũng dễ, giá thì cũng tương đối ổn định chứ không có trượt giá hay thấp quá như những loại bông khác nên tôi chọn hoa hồng để trồng bán tết năm nay”

Còn anh Lê Minh Nhựt Tân ở ấp Khánh Nghĩa - xã Tân Khánh Đông thì chuẩn bị trên 3.000 chậu cúc mâm xôi phục vụ tết. Cũng nhiều năm gắn bó với cây cúc mâm xôi nên anh Tân có thừa kinh nghiệm để chăm sóc loại hoa này bán Tết. Tuy nhiên, điều mà anh phấn khởi trong vụ hoa Tết năm nay chính là được Trại giống Tân Khánh Đông cung cấp cây giống cấy mô sạch bệnh nên anh tốn ít chi phí hơn những năm trước. Anh Nhựt Tân chia sẽ: “Tết thì tôi chọn cây cúc mâm xôi, cây cúc Đoàn và cúc tiger vì 3 loại này thị trường Tết ăn rất là mạnh. Cây cúc cấy mô thì dễ trồng, ít bệnh, chồi lên rất là mạnh, xử lý hoa dễ hơn cây cúc truyền thống của mình”

Kiểng lá cũng được nông dân làng hoa tất bật chuẩn bị cung ứng cho thị trường Tết

Bên cạnh việc chuẩn bị các loại hoa phục vụ thị trường Tết thì các nhà vườn trồng kiểng lá cũng đang tất bật tìm nhiều giống mới để cung ứng cho thị trường Tết . Tại khu vườn trên 8.500m2 của ông Nguyễn An Khương ở khóm Sa Nhiên - phường Tân Quy Đông đã có hàng chục ngàn chậu kiểng lá với hàng trăm loại khác nhau trong đó có nhiều giống mới được chuẩn bị để tham gia thị trường Tết năm nay như: sứ quan âm, đuôi công, đuôi phụng… Do tính đặc thù của kiểng lá là bán quanh năm vì thế để tham gia thị trường Tết thì người trồng phải cập nhật liên tục những giống hoa mới. Cũng theo ông Nguyễn An Khương thì để tung ra thị trường một giống cây mới được khách hàng đón nhận thì đòi hỏi người trồng phải nghiên cứu và có kinh nghiệm sản xuất vì đôi lúc có những giống cây vừa nhập về nhưng đưa ra thị trường khách hàng không chấp nhận thì coi như “thua”. Ông Khương nói: “ Mình sản xuất theo nhu cầu của khách hàng chứ không phải sản xuất theo ý mình vì có những mặt hàng khách hàng không chấp nhận thì mình phải loại bỏ vì vậy phải tìm nhiều giống mới”

Nông dân làng hoa đang tích cực chuẩn bị hoa kiểng tham gia thị trường hoa Tết 2015

Một tín hiệu vui nữa là vụ hoa tết năm nay, Hợp tác xã hoa kiểng Tân Quy Đông tiếp tục là đầu mối, hỗ trợ cả đầu vào lẫn đầu ra cho người trồng hoa đã phần nào tạo sự an tâm cho nông dân. Ông  Phạm Phước Lợi - Giám đốc Hợp tác xã hoa kiểng Tân Quy Đông cho biết: “năm nay, ngoài việc hỗ trợ giống cho các xã viên, chúng tôi còn liên kết với trrại giống để có giống cây sạch bệnh cho bà con. Và thị trường tết năm nay chúng tôi cũng đã liên kết được với một số thị trường lớn ở thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác để làm đầu mối cung ứng hoa Tết. Năm nay chúng tôi cũng dự kiến sẽ tham gia thị trường ở thành phố Cao Lãnh và một số nơi khác khi có nhu cầu”.

Với sự chuẩn bị chu đáo của nhà vườn và sự hỗ trợ của của các đơn vị liên quan hứa hẹn vụ hoa tết năm nay, trên 2.000 hộ trồng hoa kiểng tại làng hoa Sa Đéc sẽ tiếp tục gặt hái được nhiều thắng lợi.

Bài, ảnh: THANH NGHĨA

Mô hình phát triển du lịch nông nghiệp gắn với làng nghề


Xây dựng nông thôn mới đang đặt ra nhiều thách thức. Tạo sinh kế bền vững cho người dân găn bó với hoạt động sản xuất nông nghiệp, gắn kết nông thôn – thành thị qua hoạt động du lịch là một hướng đi hiệu quả và bền vững, nhiều nước đã thực hiện thành công. Ở Việt Nam, một số mô hình gắn kết du lịch với các làng nghề, với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, gắn kết giữa các hãng lữ hành và các địa phương để phát triển du lịch đã có những kinh nghiệm quý. Đó là những tour du lịch đồng bằng sông Cửu Long giới thiệu cuộc sống sông nước miền Tây (Cần Thơ, Bến Tre, Long An…). Đó là phát triển du lịch biển có sự tham gia của cộng đồng bảo vệ sinh vật biển ở Rạn Trào (Khánh Hoà), là những tour du lịch nông nghiệp gắn với làng nghề Ba Vì (Hà Nội)…

Hương ước của làng từ xưa quy định: Chỉ truyền nghề cho người trong làng; không được đem bí quyết nghề truyền dạy cho nơi khác, cho người làng khác. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN.

Du lịch nông nghiệp trên thế giới rất được coi trọng vì đã chứng minh được sự đóng góp to lớn không những về mặt kinh tế mà còn về các mặt xã hội, bảo vệ môi trường gốc rễ về tự nhiên, văn hóa và lịch sử. Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa các nước đều dùng giải pháp này để giảm thiểu khoảng cách bất công giàu nghèo về khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn khi chỉ chú trọng thái quá đến sự phát triển bất động sản đô thị và xây dựng các khu công nghiệp .Thực chất đây là một hình thức phát triển mối giao hòa về mặt tự nhiên, văn hóa và con người giữa các đô thị và nông thôn thông qua việc đến ở (homestay) hoặc tham quan có mục đích nhằm hưởng thụ các sản vật địa phương tại từng nông hộ gia đình hoặc trang trại. Bên cạnh đó còn được thưởng ngoạn các danh lam thắng cảnh và tham gia văn hóa đồng quê nên du lịch nông nghiệp đã được khẳng định là một hình thức du lịch mang tính cộng đồng bình đẳng và bền vững.Do tầm quan trọng về mặt xã hội và kinh tế nên họat động du lịch nông nghiệp bắt đầu từ Châu Âu đã được mở rộng khắp trên toàn thế giới với sự hỗ trợ tích cực từ chính phủ về chính sách vĩ mô như Quy hoạch, tài chính, luật pháp, thương mại và quảng cáo. Các chính phủ của các nước đã hướng sự quan tâm của cộng đồng toàn xã hội vào phát triển du lịch nông nghiệp – Agritourism. Danh từ này có thể dùng khác nhau .Ở Ý là “Agri-tourismo (du lịch nông nghiệp ),ở Mỹ là “Homestead”(du lịch trang trại), ở Nhật là “Green-tourism”(du lịch xanh) “vì các sản phẩm (sản vật) dùng cho du khách bắt buộc phải được sản xuất bằng phương pháp hữu cơ mang tính bản địa.

Yếu tố hàng đầu của một sản phẩm du lịch là sức hấp dẫn khách du lịch .Đối với du lịch nông nghiệp, lịch sử và văn hóa hình thành sản vật giữ một vai trò chính yếu. Đế tạo ra các sản vật mang tính hàng hóa nên mỗi sản vật đều có lịch sữ về nguồn gốc và lịch sử văn hóa canh tác, nuôi trồng , sơ chế , chế biến và quá trình thương mại hóa sản phẩm. Nói cách khác các sản vật mang tính văn hóa địa phương đã được các cộng đồng dân cư nông nghiệp của các làng quê sản sinh ra theo dòng lịch sử tồn tại của mình và rất gắn kết sâu sắc với thiên nhiên bản địa . Đó chính là nguồn tài nguyên vô tận để tạo ra các sản phẩm rất hấp dẫn cho du khách nếu biết tổ chức và khai thác vì ngòai yếu tố thiên nhiên còn là sản phẩm của trí tuệ và kinh nghiệm của cả một cộng đồng nông nghiệp làng xóm đã tạo ra các làng nông nghiệp truyền thống với các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của mình .Với cách hiểu như trên thì  làng nghề nông nghiệp truyền thống không chỉ bao gồm các sản phẩm từ các nghề thủ công mỹ nghệ mà còn từ các nghề  trồng trọt chăn nuôi đánh bắt trong nông lâm ngư nghiệp .Làm thế nào để phát triển du lịch nông nghiệp gắn kết được với các làng nghề sản xuất nông lâm ngư nghiệp truyển thống mang tính đặc thù của địa phưong và vùng miền ở nước ta là cả một vấn đề mang tính lý luận cũng như thực tiễn cần nghiên cứu rất kỹ lưỡng .Tuy du lịch nông nghiệp là một sự nghiệp mói mẻ còn sẽ gặp rất nhiều khó khăn nhưng có thể tin tưởng vào sự phát triển lâu dài vì có một số tiền đề triển vọng sau :

1.Việt nam là một quốc gia có bề dày lịch sử  phát triển nền sinh thái nông nghiệp dựa trên nền sinh thái thiên nhiên có tài nguyên đa dạng sinh học thuộc 16 nước cao nhất thế giới. Đa dạng sinh học là chiếc nôi sống, nơi sản sinh ra các thảm phủ sinh thái tự nhiên cho việc phát triển và tồn tại bền vững một nền sinh thái nông nghiệp với các sản vật thiên nhiên độc đáo. Đó cũng là cái lõi chính để đặt nền móng cho việc phát triển các sản phẩm du lịch nông nghiệp bền vững đủ sức cạnh tranh trên thi trường quốc tế ở một nước nông nghiệp như Việt nam.

2. Sự nghiệp nông nghiệp ,nông thôn và nông dân đang tiển hành sâu rộng theo chủ trương đổi mới nông thôn về các mặt của Đảng và Chính phủ hiện nay sẽ tạo một môi trường thuận lợi cho việc phát triển du lịch nông nghiệp tại các làng nghề nông lâm ngư nghiệp truyền thống ở nước ta và ngược trở lại du lịch nông nghiệp sẽ là động lực thúc đẩy cho việc thực hiện phong trào nông thôn mới với tốc độ vừa nhanh vừa bền vững do không những tham gia tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế ,mở rộng đầu ra của sản phẩm mà còn bảo tồn được các giá trị văn hóa gốc của nông thôn hoặc giá trị về thương hiệu hàng hóa đặc thù .

3. Tỉnh hoặc thành phố nào ở nước ta nào cũng có các làng nông nghiệp truyền thống với không gian làng xã sinh động và các cảnh quan đồng quê đẹp trữ tình có tiềm năng trở thành điểm du lịch nông nghiệp hấp dẫn du khách trong và ngoài nước .

4.Chúng ta có thể học hỏi rất nhiều kinh nghiệm từ các nước đã trải qua 30 ,40 năm và đã thành công trong việc đặt nền móng và phát triển du lịch nông nghiệp với điểm xuất phát ban đầu như Việt nam hiện nay vd như Hàn quốc và một số nước Châu Âu .

5.Tài liệu và thông tin du lịch nông nghiệp đã có sẵn rất nhiều trên thế giới .Có cả trang Web liên kết các quốc gia trên thế giới về Tuor du lịch nông nghiệp.

6.Lượng khách quan tâm tới du lịch nông nghiệp ngày càng lớn vì đa số rất quan tâm tới thực phẩm ngon sạch và không gian sinh hoạt của các nông hộ ,các gia trại ,các cộng đồng nông nghiệp làng xã tối lửa tắt đèn ấm cúng có nhau . Một không gian sống rất thực và thoáng đạt mang tính đồng quê luôn có sức lôi cuốn đặc biệt với du khách trong và ngoài nước với mọi lứa tuổi khác nhau .

7. Nội dung của sản phẩm du lịch nông nghiệp rất phong phú làm gốc để phát triển ra các sản phẩm khác như du lịch ẩm thực đồng quê ,du lịch nâng cao sức khỏe giải tỏa stress khôngchỉ cho người lớn mà còn cho trẻ em như bệnh tăng động hay trầm cảm ,du lịch học đường ( studing-tour ),du lịch chuyên đề ,du lịch về cội v..v .Du lịch nông nghiệp luôn hỗ trợ du khách trở thành du khách tích cực trong tất cả các hoạt động không bao giờ nhàm chán .

Bên cạnh các thuận lợi tiềm năng quá trình phát triển mô hình du lịch nông nghiệp tại Việt nam sẽ đối mặt vói các việc cần thực hiện cũng như khó khăn bất cập sau :

1.Cần có chủ trương nghiên cứu một cách thấu đáo việc xây dựng nền tảng lý luận mang tính thực tiễn và hết sức đặc thù cho việc phát triển nền du lịch nông nghiệp truyền thống Việt nam vì đây là vấn đề mang tính hệ thống phức tạp để đưa ra được chính sách phát triển .

2.Quá trình quy hoạch ,bảo tồn các làng nghề truyền thống nông nghiệp gắn với du lịch nông nghiệp là một việc khó khăn đòi hỏi tầm nhìn lâu dài và nếu thực hiện sẽ cần một quyết sách rất mạnh mẽ từ các cấp lãnh đạo vì liên quan trực tiếp tới chiến lược phát triển kinh tế hàng hóa và cộng đồng cư dân nông nghiệp ( nông hộ ,trang trại ,các trung tâm khuyến nông lâm ngư nghiệp ,các hợp tác xã )  .

3. Cần có thời gian để tiến hành xây dựng bộ tiêu chuẩn hóa về sản phẩm du lịch nông nghiệp bắt đầu từ tên gọi và nội dung hoạt động chuẩn xác là du lich  nông nghiệp để từ đó không lúng túng trong quản lý  và quảng bá sản phẩm .

4. Cần cung cấp kinh phí đào tạo kỹ năng tiếp đón du khách và tiếp thị các sản vật cho các nông hộ vì hàng ngày họ vẫn phải trực tiếp sản xuất nên sẽ gặp rất nhiều trục trặc nếu không có sự giúp đỡ trên .

5. Thời tiết  ngày càng cực đoan và  tác động xấu từ khủng hoảng kinh tế nên số lượng du khách sẽ ít và không ổn định nếu tiếp thị và quảng cáo không tốt nên rất cần sự hỗ trợ tích cực  từ các cơ quan truyền thông nhà nước .

Trang trại đồng quê Ba vì đã được xây dựng đầu tư để thực  hiện ý tưởng xây dựng một mô hình du lịch nông nghiệp mang tính thí điểm tại vùng phụ cận xung quanh chân núi Ba Vì.Đó là một vùng  thiên nhiên rất tươi đẹp với các làng xóm thôn quê có diện tích rộng rãi rất thuận tiện cho việc tổ chức các hình thức du lịch nông nghiệp với nhiều loại sản vật khác nhau và tổ chức mô hình nói trên. Nơi đây đã hình thành các làng nông nghiệp truyền thống rất lâu đời như làng chè Ba Trại, làng Việt cổ Đá ong Đường Lâm, làng thảo dược người Dao Ba Vì, các trang trại nông hộ nuôi bò sữa, trồng rau lấy giống từ rau rừng, trồng hoa quả, nuôi ong mật, gà đồi, dê, thỏ, lợn, đà điểu, đàn trâu bò vàng nổi tiếng Ba vì  ..v.v. Hơn nữa do ảnh hưởng sâu rộng của núi Ba vì (kho gen nguyên thủy về các thảm động thực vật ,côn trùng ,vi sinh vật và các vi lượng khoáng, nguồn nước sạch ) và hơn 100 km các dòng sông lớn (sông Đà , sông Hồng) bao quanh đã tạo thành các địa hình cảnh quan, đất đai nông nghiệp rất đa dạng như rừng, vườn rừng, các thềm sông cổ, các dạng ruộng bậc thang thấp, các sông suối, các cánh đồng bằng phẳng màu mỡ do bồi tụ phù sa v v .Không phải  rất có lý khi được biết Vùng phụ cận nông nghiệp rộng lớn xung quanh chân núi Ba vì từ hàng nghìn năm trước cho tới nay là nơi luôn đựơc chọn là vùng bảo tồn, thuần hóa và phát triển đa dạng các giống gốc về một số sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt bản địa và nhập lai cho toàn quốc (người Mường – Việt cổ, Pháp,Cu Ba) và hiện nay vẫn tồn tại và phát triển các cơ sở nghiên cứu phát triển  của Bộ nông nghiệp như trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, trung tâm nghiên cứu dê cừu thỏ, các trung tâm nghiên cứu măng, dứa suối Hai, gà lơ go, đà điểu, các loài cây lâm nghiệp v..mà hàng vài chục năm là ít mới có thể thuần hóa, nuôi tạo ra sản phẩm hàng hóa, bảo tồn phát triển giống cho toàn quốc .Hoặc thị xã Sơn tây bao gồm làng Việt cổ đá ong Đường lâm là một trung tâm giao lưu thương mại về sản vật nông sản và trung tâm chế biến thực phẩm từ những thế kỷ xa xưa cho tới nay với trình dộ dân trí khá cao ,có khả năng và trình độ tổ chức sản xuất hàng hóa không nhũng từ trồng trọt mà còn từ chăn nuôi ( vd Hợp tác xã chăn nuôi Cổ đông tập trung 300 trang trại chăn nuôi ).

Trang trại hoạt động trên sự liên kết rất chặt chẽ với các nông hộ ,các trang trại tại các làng nông nghiệp truyền thống xung quanh , hỗ trợ về cách thức hoạt động du lịch nông nghiệp cho các nông hộ trang trại để cùng đón tiếp du khách chu đáo và đã có một số kết quả tương đối khả quan ban đầu sau hơn ba năm hoạt động .Nhưng chưa thể khắng định sự thành công một cách bền vững , lý do chính là nguồn kinh phí hạn hẹp  cũng như chưa đi vào được chủ trương chính sách phát triển về thể loại hoạt động này nên đã và sẽ gặp nhiều khó khăn bất cập trong hoạt động bài bản lâu dài .Do vậy mô hình thử nghiệm cũng chỉ ở trong tình trạng thực hiện rất ban đầu về ý tưởng phát triển các sản phẩm du lịch nông nghiệp gắn với làng nghề truyền thống . Trang trại đồng quê Ba vì rất hy vọng sau Hội thảo quan trọng này sẽ nhận được sự giúp đỡ hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước về các vấn đề đã nêu trên để trở thành một trong những mô hình điểm về phát triển du lịch nông nghiệp gắn với làng nghề với mong muốn được đóng góp thành công trong sự nghiệp mới mẻ khó khăn nhưng đầy triển vọng này ./.

Tiến sĩ Ngô kiều Oanh –Trang trại đồng quê Ba Vì

Đến làng nghề truyền thống trăm năm


Tiếng dập lác cọc cạch liên hồi và 2 bên đường dẫn vào xã Định Yên (Lấp Vò) tươi rói những sắc màu của chiếu đã thôi thúc chúng tôi dừng chân lại đây để trải nghiệm với nghề dệt chiếu truyền thống được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Nghề dệt chiếu tại Định Yên

Hiện chưa có một tài liệu nào xác định được cụ thể thời điểm xuất hiện nghề dệt chiếu ở Định Yên, nhưng theo các cụ cao niên trong xã thì nghề dệt chiếu đã có từ hơn 100 năm. Trước đây, làng chiếu Định Yên được biết đến nhiều nhất là chợ chiếu đêm, còn được gọi là “chợ ma” do chợ chỉ nhóm họp vào ban đêm, thường kéo dài khoảng 2 tiếng đồng hồ. Chợ chiếu đêm nhóm khoảng từ 3 giờ đêm cho đến hơn 4 giờ sáng là tan chợ. Nguyên nhân chợ chiếu chỉ bán vào ban đêm được bà con giải thích do ban ngày người sản xuất bận dệt chiếu và thương lái cũng bận đi bán nên việc họp chợ để mua bán chỉ diễn ra vào ban đêm. Giờ “chợ ma” không còn, nhưng cả 4/4 ấp thuộc xã Định Yên gồm An Lợi A, An Lợi B, An Khương và An Bình vẫn còn rất đông hộ gia đình theo nghề dệt chiếu.

Chiếu sau khi dệt được bác Năm Mum mang phơi ngoài sân

Nghề dệt chiếu Định Yên đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm nhưng vẫn được các thế hệ giữ gìn. Một chiều cuối tháng 5, chúng tôi dừng chân tại ấp An Bình, dù thời điểm này không vào mùa lễ hội để chiếu “hút hàng” nhưng tiếng máy dệt chiếu vẫn “dập” không ngừng tại nhiều nhà dân trong ấp. Để có 1 chiếc chiếu thành phẩm, đẹp, người làm ra chiếu phải qua nhiều công đoạn. Trước tiên, tuyển lựa các sợi lác cho đều nhau, không to quá cũng không được nhuyễn quá, sau đó mang đi phơi nắng độ 30 phút đến 1 giờ, khi nước nhuộm được đun sôi, mang lác vào nhuộm. Sau đó, lác được tiếp tục mang phơi nắng độ 1 buổi rồi mới mang vào dệt. Khi dệt xong, chiếu lại được mang đi cắt bìa, buộc chỉ bìa và phơi nắng.

Ông Mai Thành Lập - Chủ tịch UBND xã Định Yên cho biết, từ khi nghề dệt chiếu Định Yên được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đã có nhiều đoàn khách trong và ngoài nước tìm đến làng nghề tham quan.

Tỉnh có quy hoạch dự án Khu du lịch sinh thái Làng nghề chiếu Định Yên tại cồn Quạ, ấp An Bình với diện tích trên 32ha. Dự án đang được kêu gọi đầu tư. Nếu dự án được sớm thực hiện, địa phương sẽ có dịp quảng bá hình ảnh làng nghề, từ đó thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan nghề dệt chiếu, đồng thời các dịch vụ trên địa bàn sẽ có cơ hội phát triển và những sản phẩm chiếu của trên 3.700 hộ sinh sống bằng nghề dệt chiếu sẽ được bán “chạy” hơn.

Chúng tôi đến nhà bác Năm Mum (ấp An Bình), không khí dệt chiếu tại đây khá náo nhiệt, mọi người vừa làm vừa cười nói vui vẻ. Ngoài sân và lối ra vào nhà bác Năm Mum phơi đầy chiếu với nhiều màu sắc như tô đậm thêm nét đẹp dân dã của một làng nghề truyền thống. Những chiếc máy dệt thủ công đã được bác treo cất cạnh mái hiên nhà và thay vào đó là 5 máy dệt chiếu bằng điện hiện đại. Ở tuổi 69, bác Năm vẫn cùng các con cháu ngồi dệt chiếu, thực hiện các công đoạn để làm ra những chiếc chiếu ưng ý khách hàng. Nói về nghề làm chiếu mà gần cả cuộc đời mình đã theo, bác Năm Mum cho biết, từ lúc lên 10 tuổi, bác đã theo nghề dệt chiếu do ba mẹ truyền lại, khi bán ra những chiếc chiếu, có lúc lợi nhuận rất ít, có ngày thu về chỉ được 1 ngàn đồng/chiếc chiếu, nhưng gia đình bác không ai muốn từ bỏ. Điều bác và đông bảo bà con làm nghề dệt chiếu nơi đây cảm thấy phấn khởi là vào dịp lễ, Tết, chiếu bán được giá cao. Ngoài ra, bác Năm Mum cũng như những người thợ dệt chiếu hiếu khách khác mà chúng tôi có dịp tìm đến đều rất đỗi vui mừng mỗi khi có đoàn khách du lịch tìm đến tham quan nơi dệt chiếu và động viên những người dệt chiếu vượt qua khó khăn để giữ gìn nghề dệt chiếu truyền thống.

Theo Hữu Nghĩa 
(baodongthap.com.vn)

15 December 2014

Du lịch làng nghề truyền thống hấp dẫn du khách

(TTMT) - An Giang có nhiều làng nghề truyền thống, các cơ sở thủ công mỹ nghệ, đặc sản, như: Dệt thổ cẩm, tranh thêu tay, đường thốt nốt và các loại khô, mắm... khá nổi tiếng. Đây là tiềm năng, lợi thế của tỉnh trong việc gắn kết làng nghề với phát triển du lịch, tạo sự hấp dẫn du khách, nhất là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng của địa phương.

Làng nghề làm lưỡi câu Mỹ Hòa

Có dịp đến An Giang, dừng chân ở TP. Long Xuyên, du khách sẽ được đưa đi tham quan làng nghề se nhang ở Bình Đức (lưu truyền trên 60 năm), làm bánh tráng Mỹ Khánh (đã có 55 năm) và làng nghề làm lưỡi câu Mỹ Hòa (hơn 65 năm). Bên cạnh đó, du khách có thể đến tham quan tại Di tích cấp quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, vườn sinh thái cù lao Mỹ Hòa Hưng.

Rời Long Xuyên, du khách đến huyện Chợ Mới tham quan làng nghề chằm nón Hòa Bình, Hội An, đan đát Long Giang, mộc Mỹ Luông, đặc biệt là làng nghề mộc chợ Thủ đã có từ giữa thế kỷ XVIII. Các sản phẩm làng nghề làm ra rất đa dạng, như: Tủ, bàn, ghế, khánh thờ... được chạm trổ rất tinh vi. Ngoài ra, du khách có thể du lịch sinh thái ở 3 xã cù lao Tấn Mỹ, Bình Phước Xuân và Mỹ Hiệp gắn với tham quan nhà thờ cù lao Giêng, chùa chiền.

Nếu có thời gian thì ngược lên vùng Thất Sơn, du khách không chỉ viếng miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, tham quan làng bè (TP. Châu Đốc) mà còn có dịp thăm làng dệt thổ cẩm Chăm Châu Phong, tơ lụa Tân Châu nằm bên bờ sông Hậu. An Giang có trên 10 làng Chăm trải dài từ biên giới Khánh Bình, Khánh An (An Phú), TX. Tân Châu, xuống tận huyện Châu Phú, Châu Thành.

Bước vào làng Chăm, du khách thỏa thích ngắm những ngôi nhà có kiểu kiến trúc, hoa văn trang trí mang nét đặc trưng của dân tộc thiểu số này. Mỗi làng Chăm luôn có một thánh đường Hồi giáo bề thế, uy nghi. Thấp thoáng bên song cửa sổ, những cô gái Chăm ngồi quay tơ hay dệt thổ cẩm. Phụ nữ Chăm luôn mặc trang phục truyền thống, vẫn choàng trên đầu chiếc khăn sặc sỡ nên càng làm tôn thêm nét duyên dáng, huyền bí.

Làng nghề se nhang Bình Đức

Tuyến du lịch tiếp theo cũng khá hấp dẫn là thăm làng nghề dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo, đường thốt nốt Tịnh Biên và Tri Tôn gắn với Khu kinh tế cửa khẩu Tịnh Biên, lâm viên núi Cấm, đồi Tức Dụp và thăm làng nghề tranh lá thốt nốt gắn với khu du lịch Thoại Sơn. Vài năm gần đây, An Giang xuất hiện nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ đặc trưng, được khách du lịch ưa chuộng và xuất khẩu mạnh.

Các sản phẩm được làm từ nguyên liệu sẵn có tại địa phương như mỹ nghệ tre bông, gỗ ghép, tranh lá thốt nốt, chạm khắc gỗ... Trong đó, làng nghề dệt thổ cẩm Khmer xã Văn Giáo (Tịnh Biên) mang đậm nét độc đáo văn hóa đặc thù của đồng bào dân tộc được du khách trong và ngoài nước rất ưa chuộng...

Bên cạnh những lợi ích về kinh tế- xã hội, hình thức du lịch gắn với làng nghề truyền thống đã góp phần bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hóa độc đáo của địa phương, ngày càng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

An Giang không chỉ hấp dẫn du khách bởi lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, mà còn có nhiều di tích lịch sử và các lễ hội văn hóa dân tộc đặc sắc, như: Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, Hội đua bò, Tết Ramadan của người Chăm… Đến với An Giang, du khách sẽ được trải nghiệm tour du lịch cộng đồng tham quan các làng nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ và cơ sở sản xuất hàng đặc sản. An Giang hiện có 35 làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở 49 xã, phường. Trong đó, có 26 làng nghề được UBND tỉnh công nhận, giải quyết việc làm hơn 10.900 lao động. 

Bài, ảnh: THU THẢO

14 December 2014

Màu sắc nhà ở và đồ nội thất 2015 có gì mới? (Bảng màu 2)


2- Bảng màu 2:  Abstractions - trừu tượng: 

Bảng màu mang tên Abstractions - trừu tượng hàm ý sự giải phóng các phẩm chất nghệ sĩ bên trong mỗi chúng ta, tương tự như việc xây dựng phong cách nghệ thuật trừu tượng, ở đây dường như là sự tập hợp ngẫu nhiên, tạo thành một bức tranh ghép hình dạng khác nhau và nhiều hình hình học. 

Màu sắc chính gồm màu nho và mơ, đỏ cây thược dược (mẩu đơn), màu xanh dương (như màu quần jean mài đá), nâu hạt dẽ và màu vườn nho xanh có thể đến từ các nơi khác nhau, nhưng khi hợp lại với nhau tạo ra một tổng thể nghệ thuật.

Dưới đây là hình ảnh minh họa:

Bảng màu Abstractions - trừu tượng: 



11 December 2014

Màu sắc nhà ở và đồ nội thất 2015 có gì mới? (Bảng màu 1)


Đối với hầu hết người tiêu dùng ngày nay, sự phối hợp màu sắc và phong cách nội thất nhà ở là một mục tiêu nhất quán, nhưng những quy tắc màu cứng nhắc cũ kỹ đã nhường chỗ cho một cách tiếp cận sáng tạo hơn về thiết kế và phối hợp đồ đạt trong nhà. Phong cách, lối sống và thị hiếu luôn phát triển và vì vậy những dự báo đó đang tạo ra sự hòa hợp, đồng nhất mới trong cả màu sắc và thiết kế. Màu sắc đã trở thành yếu tố hết sức quan trọng, ngày càng trở nên đồng nhất với chức năng của công nghệ, có nghĩa là diện mạo, bề mặt sản phẩm trở thành một điểm khác biệt có ảnh hưởng đến hoặc người tiêu dùng trở nên mạo hiểm hơn. Màu sắc đậm tươi sáng đang đứng trên các sắc thái khác và các trang bị, vật dụng đang dần chuyển từ thép đen (tối) sang thép không gỉ (sáng).

Pantone Inc là một công ty có trụ sở tại Carlstadt, New Jersey (Hoa Kỳ). "Cơ quan nổi tiếng thế giới về màu sắc" này được biết đến nhiều nhất là Pantone Matching System ( PMS ), một độc quyền không gian màu được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp, đã đưa ra dự báo màu sắc chiếm ưu thế  đối với màu sắc nhà ở và đồ nội thất trên thị trường trong năm 2015. Chín bảng bảng màu dự báo xu hướng sắp tới, có thể sẽ trở thành xu hướng ảnh hưởng đến của công ty, nhà sản xuất. Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu chúng với các hình ảnh minh họa để các thợ thủ công tham khảo.


1- Bảng màu 1 - Style-Settings: Thời trang cao cấp thường là tiền thân của phong cách nội thất, thiết kế, cấu trúc và màu sắc. Bảng màu được gọi là Style-Setting nói về tất cả tư thế đĩnh đạc, cân bằng sự tinh tế và bóng loáng. Sự sang trọng của nhóm màu tím thêm một tác động ấn tượng hơn so với màu nâu đỏ cổ điển (màu của gỗ mahoganies- gỗ gụ lớn lá- nhạc ngựa), trắng nhạt, xám và màu xám nâu, cùng với tinh tế lung linh màu hạnh nhân và màu be rượu sâm banh (biến thể các màu nâu hoặc màu vàng nhạt, xem hình)


Bảng màu Style-Settings

Minh họa các màu trong bảng trên:

Champagne Beige - Màu be




Wood Violet - Tím





Radiant Orchid - Tím Lan hồ điệp



Steel Grey - Xám





Frosted Almond - Hạnh nhân đục, mờ


Desert Taupe- Nâu sẫm




(Còn tiếp)
SGVicrafts


 

Kết mối với chúng tôi

Người xem

Liên hệ

Name

Email *

Message *

Video lưu trữ

Đăng ký cập nhật bài mới