Gốm sứ mỹ nghệ việt nam trên thi trường thế giới

Dù muốn hay không, các làng nghề gốm cũng đang ở trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thị trường của sản phẩm gốm sứ hiện nay là thị trường rộng lớn của 150 nước thành viên của WTO và khách hàng tiềm năng có thể thuộc hàng trăm dân tộc và nền văn hóa khác nhau.

Phố đàn Nguyễn Thiện Thuật- Làng đờn quận 4.

Ở Tp.HCM có một con đường được nhiều người gọi là phố đàn, đó là con đường Nguyễn Thiện Thuật nằm trên địa bàn quận 3. Những cửa hàng này có cái thâm niên đã mấy chục năm, nhưng có cái cũng chỉ mới mở vài ba năm với những cái tên như: Dung đàn, Guitar gỗ, Ngọc Hồ, Bình Guitar...

Doanh nhân Nguyễn Thị Đẹp - Người thổi "Hồn" cho hoa

Bước vào không gian trưng bày các sản phẩm thủ công của doanh nghiệp tư nhân Thảo Minh, bất cứ ai cũng sẽ có cảm giác như lạc vào thế giới sắc màu với những sản phẩm nghệ thuật độc đáo từ hoa khô.Những vật liệu tự nhiên dưới bàn tay khéo léo của người thợ lành nghề, đã hình thành nên các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc như: bông hoa, giỏ hoa, quả cầu thủ công

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hữu Hạnh: Những bức tranh thêu gây hai niềm rung cảm

Ai là con gái Đà Lạt ít nhiều cũng biết đan móc, thêu thùa, vá may; chị Nguyễn Thị Hữu Hạnh cũng vậy, từ nhỏ đã quen thuộc với đường kim mũi chỉ trên những chiếc khăn. Được mẹ khen khéo tay, thêu đẹp, chị thêm thích thú với công việc.

Làng nghề gốm người Khmer Nam bộ

Điểm đặc sắc trong làng nghề gốm Tri Tôn là không dùng bàn xoay hoặc ứng dụng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào. Đơn thuần chỉ bằng tay với kinh nghiệm mang tính bẩm sinh.

30 November 2014

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ tiếp tục tăng trưởng

(VINANET)– Quý IV là mùa cao điểm xuất khẩu của mặt hàng gốm sứ, nhiều doanh nghiệp đã có đơn hàng đến hết năm, thậm chí một số doanh nghiệp đã bắt đầu đàm phán đơn hàng cho năm 2015.

Gốm sứ vốn là mặt hàng xuất khẩu mạnh nhất trong ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm luôn chiếm khoảng 15% tỷ trọng. Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng sản phẩm gốm sứ tháng 10/2014 (tháng đầu tiên của quý IV) đạt 46,1 triệu USD, tăng 13,1% so với tháng liền kề trước đó, nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này từ đầu năm cho đến hết tháng 10 lên 415,1 triệu USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước.


Việt Nam xuất khẩu sản phẩm gốm sứ sang 27 thị trường trên thế giới, trong đó Nhật Bản  là thị trường xuất khẩu chính, chiếm 16,6% tổng kim ngạch, đạt 68,9 triệu USD, tăng 7,71%. Thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai là Đài Loan, với 53,2 triệu USD, tuy nhiên so với cùng kỳ năm 2013 thì tốc độ xuất khẩu sản phẩm gốm sứ sang thị trường này lại giảm, giảm 3,53%...

Nhìn chung, từ đầu năm cho đến hết tháng 10, tốc độ xuất khẩu sản phẩm gốm sứ của Việt Nam sang các thị trường hầu như đều giảm kim ngạch, số thị trường có tốc độ xuất khẩu giảm chiếm trên 61% và xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông giảm mạnh nhất, giảm 45,29%.

Đáng chú ý, xuất khẩu sang thị trường Hà Lan tuy kim ngạch chỉ đạt 8,9 triệu USD, nhưng lại có tốc độ tăng trưởng mạnh, tăng 200,14% so với cùng kỳ.

Đặc biệt, thị trường xuất khẩu sản phẩm gốm sứ trong thời gian này có thêm thị trường Bỉ, đạt kim ngạch 4,7 triệu USD.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường xuất khẩu sản phẩm gốm sứ 10 tháng 2014 – ĐVT: USD

NG.Hương
Nguồn: Vinanet

Hàng thủ công Giáng sinh từ giấy

Giáng sinh sắp đến, nếu có chút thới gian các bạn hãy làm bằng tay vài món hàng thủ công Giáng sinh tuyệt đẹp, có thể để làm quà tặng, để trang trí ngôi nhà của bạn, tặng thiệp Giáng Sinh handmade cho người thân, đồ chơi Giáng sinh cho trẻ em ... và nhiều hơn nữa. Nếu thợ thủ công chuyên và không chuyên với những ý tưởng sáng tạo, bạn có thể khai thác thị trường hàng thủ công Giáng sinh đa dạng trong nước, thậm chí xuất khẩu.
Năm ngoái (2013) báo Thanh niên đã đã phản ánh về thị trường này rằng "Hàng 'handmade' chiếm lĩnh thị trường Noel" (dù chưa đầy đủ lắm).

Dưới đây, tham khảo một vài ý tưởng từ nguyên liệu bằng giấy và các phụ kiện khác, bạn có thể làm đến cả ngàn mẫu sản phẩm khác nhau để tạo ra phong cách riêng hoặc nếu để bán, bạn sẽ cung cấp cho người mua nhiều  sự lựa chọn.


29 November 2014

Du lịch làng nghề - Thực trạng và giải pháp

Tại Việt Nam, hầu như tỉnh nào cũng có làng nghề và những sản phẩm thủ công độc đáo, nổi tiếng. Khách du có thể lựa chọn tùy thích những mặt hàng thủ công cho tiêu dùng, trang trí, làm quà tặng bằng các chất liệu địa phương khác nhau. Vẻ đẹp phản ánh trong hàng thủ công được kết hợp với thiên nhiên, hệ thực vật, động vật, các truyền thuyết, điển tích… là tuyệt vời. Tuy nhiên, muốn phát triển, sự vận hành của các làng nghề phải cùng nhịp độ với sự vận hành của thời đại, phải thích ứng với các thay đổi.

NGUYỄN LỰC

 



Phan Tôn Tịnh Hải và một tình yêu ẩm thực

Mai Hoa

(SaigonVicrafts) Cảm nhận đầu tiên khi gặp chị là sự thân thiện, niềm nở và tất bật với công việc. Chị xin phép vừa nói chuyện vừa làm việc vì hôm nay nhà hàng của gia đình chị có khách đặt tiệc. Nhìn chị tỉ mỉ tỉa từng cái hoa, cái lá, đầu con thú… từ một số rau củ quen thuộc như: su su, cà rốt, củ sắn … chuẩn bị cho món “Gỏi sứa hình rồng” cho buổi tiệc tối nay mới thấy hết sự cần mẫn, chỉn chu và tâm huyết của chị dành cho từng món ăn.
  
Đó là Thạc sĩ  ẩm thực Phan Tôn Tịnh Hải, một người con của xứ Huế luôn mong muốn đem ẩm thực cung đình và ẩm thực các vùng miền của Việt Nam đến với mọi người trong nước và bạn bè quốc tế.

Sinh ra và lớn lên tại cố đô Huế, 12, 13 tuổi chị đã làm quen với công việc bếp núc do ảnh hưởng từ người mẹ là một nghệ nhân ẩm thực nổi tiếng.  Sau khi tốt nghiệp Cử nhân Du lịch,  chị giảng dạy tại trường Trung cấp du lịch Thừa Thiên - Huế. Một dịp  tình cờ, chị được một Master Chef từ Luxembourg đến chọn tham dự khóa huấn luyện đặc biệt và được đi thực tập tại các khách sạn 5 sao ở Hà Nội. Từ đó, trong lòng chị đã nhen nhúm một khát khao được trở thành đầu bếp  giỏi và gắn cả đời mình vào sự nghiệp ẩm thực.



Năm 2004, từ giã Huế chị vào Thành phố Hồ Chí Minh và đi dạy ở các trường trung cấp và cao đẳng, rồi đến trường Du lịch và Ngoại ngữ Khôi Việt. Năm 2009, chị tốt nghiệp khoá học Master của Viện Ẩm thực Pennsylvania, lấy bằng Thạc sĩ về ẩm thực và dinh dưỡng. Trong thời gian học tập và làm việc tại Hoa kỳ, chị luôn tìm cơ hội đưa văn hoá ẩm thực Việt ra thế giới. Bằng tâm huyết, niềm đam mê và kỹ năng của mình, Tịnh Hải đã chinh phục được đông đảo bạn bè quốc tế, khẳng định tài năng của một người đầu bếp Việt Nam năng động, trình độ và sẵn sàng tiếp thu cái mới, song vẫn giữ được bản sắc của dân tộc.




Mơ  ước về một ngôi trường dạy nghề  bếp luôn cháy bỏng trong lòng chị. Sau khi nhận bằng thạc sĩ  ẩm thực Dinh dưỡng  ở Mỹ về, chị mở trường dạy nghề bếp mang tên Mint Culinary School ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đây cũng là ngôi trường đầu tiên ở Việt Nam đào tạo chuyên ngành Bếp.  Học viên được đào tạo chính quy theo mô hình quốc tế, hiện đại, bài bản với các môn bếp: Việt, Âu, Á - Âu, Nhật, Thái…. Trong những năm qua, nhà trường đã đào tạo hàng trăm học viên ra trường, đáp ứng nhu cầu cấp thiết trên cả nước.

Niềm vui của chị là làm ra được nhiều món mới cho thực khách hoặc làm mới những món ăn đã có của Huế cho phù hợp với mọi người như món thịt heo kho ruốc sả. Ruốc là món ăn quen thuộc của người Huế, ruốc được làm từ nguyên liệu có sẵn ở địa phương và rất ngọt nên được sử dụng trong nhiều món ăn. Tuy vậy, để xử lý mùi của ruốc là điều không dễ. Bằng cách cho sả và  thịt heo với tỷ lệ hợp lý chị  đã cho ra món thịt heo kho sả ruốc hiệu Chef Tịnh Hải được khách hàng ưa chuộng.

Chị hiện là Tổng Giám đốc Công ty CP Nghệ thuật ẩm thực Việt; Hiệu trưởng Trường đào tạo nghề bếp Mint Culinary Shool; Thành viên Hội đồng cố vấn  của Viện Nghiên Cứu Ẩm thực Việt Nam; Thành viên Hội đồng tư vấn kỷ lục VN; Tham gia làm Giám khảo quốc gia các cuộc thi tay nghề toàn quốc do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức; Giám khảo chương trình "Young Chef Idol", "Iron Chef Vietnam" và "Master Chef Vietnam; Chuyên gia tư vấn ẩm thực và dinh dưỡng Chương trình truyền hình “Gia đình vàng” VTV9); Dẫn chương trình  Khéo tay  hay làm của Đài Truyền hình TPHCM; Hướng dẫn và đào tạo đầu bếp cho nhiều nhà hàng và khách sạn nổi tiếng với hơn 500 công thức món ăn; Tham gia biểu diễn nghệ thuật ẩm thực tại các nước châu Á như Thái Lan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất; Tại Mỹ, chị đã biểu diễn ở nhiều trường đại học cho hàng ngàn sinh viên xem, thấy và biết đến các món ăn quốc hồn quốc túy của Việt Nam. Riêng tại trường đại học Hobart and William Smith, New York, chi đã huấn luyện 6 bếp trưởng thực hiện "Một ngày ăn món ăn Việt Nam” cho toàn trường

Bận rộn nhiều công việc song lúc nào Phan Tôn Tịnh Hải cũng tươi tắn, xinh đẹp và tràn đầy năng lượng. Ở tuổi 38 chị còn nhiều ước mơ song ước mơ lớn nhất vẫn là giới thiệu ẩm thực cung đình và ẩm thực đặc sắc các vùng miền đến với đông đảo người dân trong cả nước và bạn bè trên khắp năm châu./.

27 November 2014

Lễ phong tặng các danh hiệu Làng nghề Việt Nam.

Langnghevietnam.vn - Sáng ngày 25/11/2014 Hiệp hội làng nghề Việt Nam đã long trọng tổ chức buổi lễ vinh danh các danh hiệu làng nghề Việt Nam lần thứ VI, tại nhà hát lớn Thành Phố Hà Nội.

Nhà hát lớn thành phố Hà Nội ( Địa điểm diễn ra Lễ phong tặng)

Thay mặt Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gửi lẵng đến chúc mừng.

Lẵng hoa chúc mừng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 

Ngay từ sáng đã có rất nhiều các đoàn đại biểu của Trung ương, các Bộ, Ban,Ngành và các đoàn đại biểu Làng nghề từ các tỉnh, thành phố và đông đảo đại biểu đến tham dự .

Lễ vinh danh được mở đầu bằng chương trình nghệ thuật với phần trình diễn thời trang áo dài của Nhà thiết kế Lan Hương với chủ đề “ Đông hồ”. Bộ sưu tập áo dài là các tác phẩm được thêu bằng tay với các họa tiết về tranh đông hồ, hoa sen, …. Thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và phần biểu diễn ca khúc “làng nghề Việt Nam” của ca sỹ Thúy Mỵ để chào mừng.

Chương trình văn nghệ chào mừng Lễ vinh danh

Ông Lưu Duy Dần, chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam khai mạc lễ vinh danh, ông nói GS Vũ Khiêu đã từng phát biểu “ Nhà – Làng và nước từ ngàn đời nay có thể gắn bó và thống nhất trong cộng đồng lớn Tổ Quốc. Trong đó làng nghề như những điểm đột phá, mở ra chân trời mới cho làng xã Việt Nam”. Nhằm khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của các làng nghề Việt nam.

Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam ông Lưu Duy Dần đọc diễn văn khai mạc

Các đại biểu tham dự

Làng nghề truyền thống và các nghệ nhân tiêu biểu trong làng nghề đang góp phần chứng minh và bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc, như GS Tô Ngọc Thanh chủ tịch hội Văn hóa dân gian đồng chủ tịch hội đồng xét thưởng đã có bài viết “ Nghệ nhân dân gian – tài sản vô giá của văn hóa Việt Nam”. Thay mặt Ban Tổ chức, đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,ông Nguyễn Trọng Thừa - Cục trưởng Cục chế biến Nông lâm sản và nghề muối đã cùng các lãnh đạo Hiệp hội làng nghề lên trao tặng các chứng nhận các danh hiệu Làng nghề Việt nam cho các tập thể và Nghệ nhân - Thợ giỏi Làng nghề Việt Nam.

Clip ông Lưu Duy Dần - Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam phát biểu tại lễ phong tặng làng nghề lần thứ VI - 2014
                             





Ban tổ chức vinh danh các danh hiệu Làng nghề Việt Nam lần thứ VI

Các làng nghề truyền thống với các sản phẩm độc đáo, đa dạng, mang giá trị nghệ thuật cao đã vươn tới các thị trường thế giới, khẳng định thương hiệu thủ công mỹ nghệ Việt Nam giới thiệu đến bạn bè thế giới. Có được sự thành công là sự tìm tòi sáng tạo không ngừng nghỉ của hàng trăm nghệ nhân, thợ giỏi trên mọi miền tổ quốc mà tiêu biểu như nghệ nhân làng nghề truyền thống : gốm sứ Bát Tràng, Chu Đậu, gỗ mỹ nghệ Sơn Đồng, La Xuyên, Vũ Lăng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, mây tre đan Phú Túc, khảm trai Chuôn Ngọ, da giấy Phú Yên, chè song cầu Thái Nguyên. Bên cạnh đó là các đoàn nghệ nhân đóng tàu gỗ Trung Kiên, đoàn nghệ thuật ẩm thực cung đình Huế, đoàn nghệ nhân điêu khắc gỗ Quảng Nam, là các đại biểu xuất sắc của miền trung. Chia sẻ với Nghệ nhân Nguyễn Đắc Luyện, với nghề khảm trai truyền thống, ở Chuyên Mỹ Phú Xuyên, chuyên về đồ nội thất: hoành phi câu đối, tranh treo tường… chia sẻ về nghề “Để làm nên một sản phẩm với độ tinh xảo nhất định đòi hỏi phải có chuyên môn tốt( năng khiếu bẩm sinh) kết hợp nhiêu công đoạn như  :Ý tưởng mẫu mã,sau đó là cưa, đục, tách đặc biệt khảm truyền thần yêu cầu người thợ phải có đôi mắt tinh xảo để lực chọn nguyên liệu phù hợp có thể chuyển tải được ý nghĩa của tác phẩm”. 

Nghệ nhân khảm trai - Nguyễn Đắc Luyện

Chủ tịch Lưu Duy Dần lên kết thúc buổi lễ và NTK Lan Hương lên phát biểu cảm tưởng và chia sẻ về nghề.

Được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ , hy vọng sau Lễ vinh danh các danh hiệu Làng nghề Việt Nam lần thứ VI này, Làng nghề Việt Nam sẽ có bước đột phá về sự phát triển và sẽ là nhưng nhân tố tích cực trong Chương trình “Nông Thôn Mới” của Chính Phủ.


26 November 2014

Làng nghề Việt mất thương hiệu vì công nghiệp phụ trợ yếu kém

Khi làng nghề nhập khẩu mọi thứ từ A đến Z thì lại là câu chuyện khác. Khi đó người thợ thủ công vốn nổi tiếng khéo léo trở thành người thợ lắp ráp, gia công giản đơn đến trẻ con cũng làm được.

Liên quan đến việc hàng loạt các làng nghề Việt hiện nay phát triển theo hướng lắp ráp, gia công thậm chí trở thành điểm trung chuyển của hàng Trung Quốc khiến người tiêu dùng mất niềm tin. Nhiều chuyên gia cho rằng đây là một hướng đi cực kì xấu của của các làng nghề Việt trong thời kì mới.

Để làm rõ hơn vấn đề này tới độc giả, PV đã có cuộc gặp gỡ với PGS.TS Phạm Tất Thắng, nghiên cứu viên cao cấp của Bộ Công Thương.

PV: Được biết hiện nay rất nhiều các làng nghề truyền thống của Việt Nam đã trở thành công xưởng gia công, lắp ráp, điểm trung chuyển của hàng hóa Trung Quốc. Ông nghĩ như thế nào về xu hướng mới này của làng nghề Việt?

PGS.TS Phạm Tất Thắng: Đó là thực tế không chỉ của làng nghề mà còn là vấn nạn chung của nền kinh tế Việt Nam. Nói về lợi ích, Việt Nam là quốc gia nhỏ bên cạnh nước láng giềng lớn là Trung Quốc, chúng ta được mua nguyên liệu với giá rẻ, có một thị trường xuất khẩu lớn, học hỏi được nhiều bài học kinh nghiệm. Chính vì vậy, ai cũng có thể nhìn thấy đó là sự phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc khiến mất tự chủ kinh tế.

Nói về trường hợp của làng nghề truyền thống, việc phụ thuộc vào nguyên liệu giá từ Trung Quốc là lẽ tất yếu. Tuy nhiên, việc phụ thuộc quá sâu đến mức nhập khẩu nguyên liệu rồi đến nhập khẩu công đoạn thì các làng nghề đang tự đánh mất mình. Đây là một xu hướng tiêu cực trong phát triển làng nghề Việt.

PV: Như vậy là đang có sự phụ thuộc rất lớn vào Trung Quốc?

PGS.TS Phạm Tất Thắng: Chính xác là như vậy, phần lớn nguyên liệu cho các làng nghề là chúng ta nhập từ Trung Quốc. Việc phụ thuộc này từ xưa đã như vậy, rất khó để thoát ra khi nguyên liệu từ Trung Quốc mặt bằng giá rất rẻ. Khi nhập khẩu các nguyên liệu này, các làng nghề đã giảm bớt được rất nhiều công đoạn để chỉ tập trung vào gia công sản phẩm hoàn chỉnh.

Chưa kể, các làng nghề từ làm da giày, thủ công mỹ nghệ, hoa giả, lụa, gốm sứ…dần bán mình cho Trung Quốc và chuyên về lắp ráp, gia công. Nhiều làng nghề còn trà trộn hàng Trung Quốc thành thương hiệu của làng nghề. Lợi ích kinh tế lớn các làng nghề Việt chạy theo cũng là một điều dễ hiểu.

Tăm tre nhập khẩu được bán phổ biến tại siêu thị Maximark  Cộng Hòa (TP.HCM)
- Ảnh: TTO

PV: Theo ông, nguyên nhân nào dẫn đến sự lệ thuộc này?

PGS.TS Phạm Tất Thắng: Trung Quốc là công xưởng của thế giới, hàng hóa-nguyên liệu vô cùng phong phú. Họ chấp cả thế giới chứ không riêng gì Việt Nam. Xét về vị trí địa lý, chúng ta là một nước nhỏ bên cạnh một nước lớn thì việc ảnh hưởng cũng dễ hiểu. Tuy nhiên, ở cạnh Trung Quốc mà chúng ta chỉ là cái bóng của họ, sao chép y nguyên thậm chí là học hỏi cách làm giống như họ thì không thể phát triển được. Thêm vào đó, nền công nghiệp phụ trợ phục vụ cho làng nghề còn yếu kém, không cung cấp được nguyên liệu cho làng nghề.

Có một số mặt hàng công nghiệp phụ trợ có thể cung cấp như: thuộc da, mỹ nghệ, sản xuất nylon…thế nhưng việc sản xuất manh mún, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu đã đẩy giá thành các nguyên liệu này lên cao dẫn đến các làng nghề từ chối hợp tác và tìm hướng nhập khẩu do giá rẻ hơn.

PV: Các sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề được tạo ra trong xu hướng mới này có được coi là sản phẩm truyền thống của Việt Nam?

PGS.TS Phạm Tất Thắng: Làng nghề là truyền thống, sản phẩm thủ công của làng nghề được gọi sản phẩm truyền thống. Sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề luôn được coi là sự tinh túy, kết tinh những tinh hoa của văn hóa Việt dưới bàn tay khéo léo của người thợ. Việc nhập khẩu nguyên liệu ở trong một mức độ nào đó thì không liên quan đến tính truyền thống, đặc trưng của sản phẩm. Trong điều kiện hội nhập quốc tế khó có thể tránh khỏi việc nhập nguyên liệu.

Tuy nhiên, khi làng nghề nhập khẩu mọi thứ từ A đến Z thì lại là câu chuyện khác. Khi đó người thợ thủ công vốn nổi tiếng khéo léo trở thành người thợ lắp ráp, gia công giản đơn đến trẻ con cũng làm được. Và như vậy thực chất đó chỉ là sản phẩm gia công không được gọi là sản phẩm thủ công truyền thống của Việt Nam được.

PV: Theo ông, phải làm sao để thoát khỏi sự lệ thuộc này?

PGS.TS Phạm Tất Thắng: Việc thoát khỏi lệ thuộc là điều hoàn toàn không thể. Trên thế giới nhiều nước hô hào tẩy chay hàng hóa Trung Quốc nhưng không nước nào có thể thực hiện triệt để được.

Chúng ta đang có thời cơ để hạn chế sự phụ thuộc này khi thời gian vừa rồi Việt Nam tham gia khá nhiều các hoạt động về thương mại quốc tế. Không còn cách nào khác phải chạy đua phát triển công nghiệp hỗ trợ. Những năm gần đây Chính phủ đã chú trọng phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, ngân hàng mở rộng đầu tư…nhưng chưa đem lại kết quả nhiều. Cạnh tranh với Trung Quốc quan trọng phải tìm ra điểm mạnh của mình chứ không phải lặng lẽ đi theo như cái bóng của họ.

Tôi lấy ví dụ, muốn phát triển thủ công mĩ nghệ cần tre, song mây, phụ kiện. Tuy nhiên, ngay cả song mây, tre chúng ta cũng đi nhập.

Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, vùng nguyên liệu không phải ngày một ngày hai. Cần có một chính sách bài bản, dài hơi, sự vào cuộc quyết liệt của các doanh nghiệp, ngân hàng đầu tư vốn. Các doanh nghiệp hỗ trợ phải chuyên môn hóa từng lĩnh vực, đổi mới dây chuyền công nghệ, phối hợp nhuần nhuyễn với các làng nghề truyền thống của Việt Nam tạo ra liên kết 3 nhà hợp lực: nhà nước – làng nghề- doanh nghiệp.

Đặc biệt, liên kết này không được quay lưng lại với nhau. Thời gian qua, khi giá cả xuống thấp doanh nghiệp không mua của nông dân, ngân hàng không cho vay vốn, nhà khoa học không dầu tư nghiên cứu, nhà nước hô hào là chính.

Xin cám ơn ông!

Hướng Dương
(infonet.vn 26/11/2014)

Những làng nghề truyền thống đang có nguy cơ 'chết mòn'

(Congannghean.vn,10/05/2014)- Rất nhiều làng nghề truyền thống, từng vang danh một thời ở vùng đất xứ Nghệ đang có nguy cơ bị mai một theo thời gian. Thêm vào đó, sự phát triển của nền kinh tế thị trường khiến những làng nghề này lao đao tìm chỗ đứng. Đó là các làng nghề như nồi đất Trù Sơn (xã Trù Sơn, huyện Đô Lương), làng bánh đa chợ Vịnh (xã Thanh Tường, huyện Thanh Chương), làng nghề mũ lá Hưng Phúc (xã Hưng Phúc, huyện Hưng Nguyên)…

Làng nghề đang bị thách thức bởi thời gian

Hầu hết những làng nghề này có từ lâu đời, một thời gắn bó với đời sống người dân và là nguồn mưu sinh cho rất nhiều hộ dân vùng quê xứ Nghệ. Tuy nhiên, trước “cơn lốc” đô thị hóa, dường như những sản phẩm có nguồn gốc truyền thống không thể “trụ nổi” trước những sản phẩm được sản xuất từ máy móc công nghệ cao.

Nghề làm nồi đất Trù Sơn có từ rất lâu, theo những người dân gắn bó lâu năm với nghề này thì nó ra đời từ những năm Pháp thuộc của thế kỷ trước. Thời đó, hầu hết nhà nào cũng ít nhiều gắn bó với công việc “nhào đất, nắn nồi” và trở thành một nguồn thu chủ yếu. Thế nhưng, hiện nay, khi tìm hiểu về nghề làm nồi đất, thật không khỏi xót xa khi biết rằng con số hộ dân còn trụ được với nó chỉ tính trên đầu ngón tay.

Chị Nguyễn Thị Tâm - một trong những người dân còn làm nghề nồi đất ở làng Trù Sơn cho biết: “Hiện tại, trong xóm này chỉ còn 5 - 6 nhà là còn làm nghề này. Trước người ta thường tranh thủ làm khi rảnh rỗi, chứ bây giờ, dù có rảnh người ta cũng ít làm, mà nếu có làm cũng với số lượng ít, ngày vài chục cái là nhiều lắm rồi”.

Làng nghề bánh đa Thanh Tường cũng đang trong hoàn cảnh tương tự

Cũng như làng nghề nồi đất Trù Sơn, làng bánh đa chợ Vịnh (xã Thanh Tường, Thanh Chương) cũng đang trên đà bị mai một. Không ai biết chính xác bánh đa chợ Vịnh ra đời vào khoảng thời gian nào. Người ta chỉ biết rằng, từ khi sinh ra, họ đã thấy ông bà mình làm món bánh này, nó cứ tồn tại từ đời này sang đời khác. Tuy nhiên, hiện số hộ làm bánh đa cũng đang giảm dần.

Nghề làm nón, mũ lá ở Hưng Phúc từng tạo được thương hiệu, được nhiều người dân trong tỉnh biết đến, nón lá một thời từng được coi như là “một biểu tượng” tại vùng quê này. Tuy nhiên, vào thời điểm này, chỉ những người lớn tuổi mới bám lấy nghề truyền thống này. Bởi, họ đã có thâm niên với nghề hàng chục năm nay nên không dễ gì bỏ được.

Vì sao làng nghề truyền thống có nguy cơ bị mai một?

Việc các làng nghề truyền thống đang có xu hướng ngày càng thu hẹp, thậm chí đang có nguy cơ biến mất không thể đổ lỗi hoàn toàn cho sự thiếu sự định hướng đầu tư, phát triển từ chính quyền địa phương. Bởi trên thực tế, chính quyền bản địa cũng đã có những chính sách nhằm khuyến khích mở rộng và phát triển mô hình làng nghề cho thế hệ trẻ. Bằng chứng là năm 2004, ở Trù Sơn đã có 5 người dân được mời ra biểu diễn cách thức làm gốm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Hiện nay, chỉ còn vài hộ dân trụ lại với nghề nồi đất ở Trù Sơn

Cũng tại đây, đã có một cuộc Hội thảo về phục hồi, duy trì và phát triển nghề làm gốm Trù Sơn do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp với Sở VHTT Nghệ An, UBND huyện Đô Lương và Bảo tàng Nghệ An tổ chức. Thậm chí còn có chương trình “Vượt lên chính mình” (năm 2008) của Đài Truyền hình HTV về thực hiện tại làng nhằm giúp người dân thoát nghèo bằng chính nghề làm nồi đất. Tuy nhiên, dường như những chính sách ấy chưa thực sự giúp các làng nghề có điều kiện mở rộng, bởi làng nghề còn mang tính tự phát, thiếu sự định hướng.

Một trong những nguyên nhân thiết yếu lý giải việc các làng nghề không thể trụ vững với thời đại là bởi, trong xu thế công nghiệp hóa, mọi thiết bị, hàng hóa đều được sản xuất ra từ công nghệ hiện đại với nhiều mẫu mã đẹp, chất lượng đảm bảo, sản xuất đồng loạt, nhanh chóng và lợi nhuận cao... Trung bình mỗi ngày, một người thợ thủ công có thể làm cũng chỉ tầm 50 chiếc nồi đất, người làm nón lá chỉ được 2 - 3 cái, người làm bánh tráng thì nhiều hơn chừng 500 - 700 cái. Trung bình một ngày làm việc như vậy, trừ mọi chi phí, mỗi người cũng chỉ kiếm được 50 - 60 nghìn đồng. Trong khi đó, các sản phẩm hiện đại chỉ cần mất một khoảng thời gian rất ngắn là có thể tạo ra hàng nghìn sản phẩm. Rõ ràng, đó là điều mà sản phẩm thủ công truyền thống không thể cạnh tranh nổi.

Khó khăn nữa đối với các làng nghề chính là không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Trước kia khi các sản phẩm truyền thống còn hưng thịnh thì còn có các cơ sở doanh nghiệp, đại lý thu mua về rồi phân phối ra nhiều nơi. Còn hiện nay, để tìm được đầu ra hiệu quả và lâu dài là một điều khó khăn. Trường hợp của bà Nghị có lẽ là người may mắn nhất ở làng Trù Sơn vì thỉnh thoảng còn có đơn đặt hàng lâu năm, với mỗi lần nhập từ 200 - 250 cái.

Bàn về việc các làng nghề đang có xu hướng ngày càng bị mai một, nhiều người dân không khỏi xót xa, lo lắng. Những người già trong làng am hiểu về nghề thì ngày càng thưa thớt, trong khi lớp trẻ không mấy mặn mà với mấy cái nghề “đã cũ lại khó hái ra tiền”. Không biết rồi đây, tương lai của các làng nghề truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc sẽ đi về đâu?

Phan Phan

25 November 2014

Chủ tịch nước gặp mặt các nghệ nhân làng nghề Việt Nam 24/11/2014

 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang với đại biểu nghệ nhân làng nghề Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Khang – TTXVN

Hướng tới kỷ niệm 10 năm thành lập Hiệp hội làng nghề Việt Nam và Lễ phong tặng các danh hiệu Làng nghề Việt Nam lần thứ VI, chiều ngày 24/11/2014, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có buổi gặp mặt thân mật 40 nghệ nhân đại diện cho các làng nghề Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp Đoàn đại biểu nghệ nhân làng nghề Việt Nam

TTXVN- Nhân kỷ niệm 84 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, hướng tới 10 năm Ngày thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, ngày 24-11, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp thân mật 40 nghệ nhân đại diện các làng nghề Việt Nam.

Chủ Tịch nước trò chuyện thân mật với các nghệ nhân.

Tại buổi gặp mặt, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Lưu Duy Dần đã báo cáo Chủ tịch nước về kết quả hoạt động của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam. Từ ngày thành lập (3-2005) đến nay, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam với đội ngũ nghệ nhân các làng nghề trong cả nước đã tích cực tham gia các hoạt động bảo tồn và phát huy nghề thủ công truyền thống, tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Hiệp hội cũng đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao thực hiện hàng trăm lớp đào tạo khởi sự doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp tại các làng nghề, giúp cho các doanh nghiệp làng nghề hoạt động hiệu quả thiết thực. Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã tổ chức vinh danh các danh hiệu cho 40 làng nghề truyền thống tiêu biểu Việt Nam; 76 đơn vị kinh tế làng nghề tiêu biểu, 79 sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh hoa; tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại, hỗ trợ hội viên xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài.

Lắng nghe kiến nghị của các nghệ nhân, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định, làng nghề là nơi hội tụ những tinh hoa văn hóa dân gian được bồi đắp theo bề dày lịch sử, sản sinh và lưu giữ những sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống có hàm lượng văn hóa tinh thần đặc sắc của dân tộc. Không chỉ mang lại hiệu quả về kinh tế, hoạt động của làng nghề còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tạo việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn, nâng cao đời sống người dân các làng nghề. Các sản phẩm làng nghề Việt Nam được xuất khẩu đã góp phần làm rạng rỡ nền văn hóa Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Việc bảo tồn và phát triển làng nghề có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong công cuộc phát triển đất nước và hội nhập khu vực và quốc tế.

Ghi nhận những hoạt động của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Chủ tịch nước đề nghị Hiệp hội tiếp tục tập hợp sức mạnh đoàn kết, tinh thần sáng tạo của các hội viên, nghệ nhân, đề xuất với Đảng, Nhà nước những giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống.
Chủ tịch nước mong muốn Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cùng các nghệ nhân tích cực thực hiện Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; phối hợp với các cơ quan, địa phương tổ chức đào tạo nghề, xúc tiến thương mại, đẩy mạnh các hoạt động thiết kế mẫu mã, nâng cao giá trị sử dụng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Đồng thời Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cần đóng vai trò tích cực trong việc chia sẻ kinh nghiệm, tập hợp giúp đỡ, tháo gỡ khó khăn cho các hội viên, góp phần xây dựng nông thôn mới, phát triển làng nghề gắn với du lịch; chú trọng nâng cao chất lượng thương phẩm hàng thủ công Việt Nam trên thương trường quốc tế; tôn vinh đóng góp của các nghệ nhân, làng nghề trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.

PV

24 November 2014

Làng nghề truyền thống: Đi đâu, về đâu: Bài 2: Tìm giải pháp thích hợp để bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

(Congannghean.vn)-Hiện nay, toàn tỉnh có 126 làng nghề và hơn 400 làng có nghề. Các làng nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời, trải qua thời gian, bằng bàn tay khéo léo, tài hoa và khối óc sáng tạo của mình, các “nghệ nhân” đã làm ra những sản phẩm tinh xảo, mang đậm nét đời sống, văn hóa địa phương.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, các làng nghề đang đứng trước nhiều khó khăn như thiếu vốn, quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm, đầu ra sản phẩm… khiến các làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một.

Theo Quy hoạch phát triển làng nghề, đến năm 2015, làng nghề trở thành lĩnh vực kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung. Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển làng nghề là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế.

Một ngày tham quan làng nghề Bảo quản và Chế biến hải sản tại phường Nghi Tân, phường Nghi Hải (TX Cửa Lò), chúng tôi cảm nhận được không khí làm việc khẩn trương, tất bật của người dân nơi đây. Đối với bà con vùng này thì nghề đánh bắt hải sản là “cần câu cơm” từ bao đời nay.

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho làng nghề mây tre đan ở Nghi Thái

Không những tạo thu nhập cho gia đình, sản phẩm của làng nghề còn được xuất khẩu ra thế giới. Bà con luôn xác định gắn bó lâu dài với nghề truyền thống. Theo quy hoạch của UBND tỉnh đối với làng nghề chế biến thủy, hải sản, đến năm 2015 sẽ chú trọng phát triển mạnh nghề truyền thống này để tạo ra hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu theo 2 hướng:

Nhóm sản phẩm truyền thống phục vụ thị trường nội địa và nhóm hải sản có chất lượng cao như hải sản, tươi sống, đông lạnh, chế biến công nghiệp để xuất khẩu, với dự kiến giá trị sản xuất đến năm 2015 đạt 7,5 tỉ đồng. Các sản phẩm ở làng nghề chế biến thủy, hải sản đã được đăng ký nhãn hiệu, công nhận và bảo vệ thương hiệu. Chính quyền địa phương, hợp tác xã luôn quan tâm cũng như tìm đầu ra cho các sản phẩm.

Không chỉ với nghề đánh bắt thủy, hải sản mà đối với nghề truyền thống nào cũng vậy, các “nghệ nhân” luôn muốn gắn bó với nghề và lưu truyền cho thế hệ sau. Vì vậy, làng nghề truyền thống phải thực sự phát huy được hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu thị trường mới có thể duy trì và phát triển.

Để nâng cao chất lượng của các sản phẩm nghề truyền thống, hàng năm, UBND tỉnh luôn cấp kinh phí cho các hoạt động khuyến công và xúc tiến thương mại để nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề. Từ năm 2002 - 2014, kinh phí đầu tư cho các hoạt động này là 41 tỉ đồng.

Theo đó, đơn vị thực hiện là Trung tâm Khuyến công và Phát triển công nghiệp sẽ tổ chức tập huấn kỹ thuật cho các làng nghề, tham quan học tập kinh nghiệm, nhất là tìm hiểu thị trường tiêu thụ ở các làng nghề trong cả nước; tổ chức đào tạo nghề, nâng cao tay nghề và bổ sung kỹ năng làm nghề đối với các làng nghề truyền thống.

9 tháng đầu năm  2014, UBND tỉnh đã đầu tư hơn 3,9 tỉ đồng, hỗ trợ 64 đề án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và phát triển làng nghề. Các hoạt động giới thiệu sản phẩm, quảng bá thương hiệu được chú trọng. Theo đó, một số sản phẩm truyền thống đã được xây dựng nhãn hiệu, công nhận và bảo vệ thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ như hương trầm Quỳ Châu, rượu Phúc Mỹ (Hưng Châu), nước mắm Cửa Lò, kẹo lạc Đô Lương…

Thông qua tổ chức các hội chợ triển lãm nhằm giới thiệu sản phẩm, từ đó tích cực tìm đầu ra cho sản phẩm. Các sản phẩm của làng nghề truyền thống được bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu. Trong năm 2014, nhiều sản phẩm được bình chọn như nước mắm Vạn Phần (Diễn Châu), mây tre đan (Quế Phong), dệt thổ cẩm (Quỳ Châu)…

Mục tiêu phấn đấu của tỉnh đến năm 2015 là có 318 làng nghề, trong đó ưu tiên duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, du nhập các nghề mới có sản phẩm tiêu thụ mạnh, có tiềm năng, lợi thế của tỉnh phù hợp thị hiếu, nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước; phát triển ngành nghề theo thế mạnh về lao động, tài nguyên trên từng địa bàn; phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch, góp phần thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ…

Để đạt được những mục tiêu đó, tỉnh cũng đã đưa ra những giải pháp, trong đó triển khai thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước, UBND tỉnh về khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn trên các lĩnh vực từ đầu tư như cơ sở hạ tầng, xử lý môi trường, xúc tiến thương mại, ưu đãi đầu tư. Trong đó, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng người lao động trở thành nghệ nhân, thợ giỏi và đào tạo truyền nghề...

Để bảo tồn và phát triển có hiệu quả những làng nghề truyền thống, thiết nghĩ cần triển khai đồng bộ các giải pháp cụ thể vào tình hình thực tế của các làng nghề. Hy vọng, với sự đầu tư và những giải pháp có lộ trình cụ thể của các ngành chức năng, làng nghề truyền thống sẽ tồn tại và phát triển để giữ lại cho thế hệ mai sau những tinh hoa văn hóa của dân tộc.

Huyền Thương

Làng nghề truyền thống: Đi đâu, về đâu: Bài 1: Nguy cơ mai một những làng nghề truyền thống

(Congannghean.vn)-Hiện nay, toàn tỉnh có 126 làng nghề và hơn 400 làng có nghề. Các làng nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời, trải qua thời gian, bằng bàn tay khéo léo, tài hoa và khối óc sáng tạo của mình, các “nghệ nhân” đã làm ra những sản phẩm tinh xảo, mang đậm nét đời sống văn hóa địa phương. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, các làng nghề đang đứng trước nhiều khó khăn như thiếu vốn, quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm, đầu ra sản phẩm… khiến các làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một.

Giữ hồn cho làng nghề 

Tính đến thời điểm này, toàn tỉnh có 126 làng nghề được UBND tỉnh công nhận, 285 làng nghề do UBND các huyện công nhận và hơn 400 làng có nghề với nhiều loại hình khác nhau, trong đó nhiều nhất là làng nghề mây tre đan, làng nghề chế biến thực phẩm, sản xuất hương, dệt chiếu cói… Các làng nghề đã giải quyết việc làm cho khoảng 40.000 lao động có mức thu nhập ổn định trên 10 triệu đồng/người/năm, đồng thời tạo ra khối lượng hàng hóa phong phú, đa dạng, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết việc làm, ổn định đời sống và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.

Nghề làm tương truyền thống ở thị trấn Nam Đàn

Mặc dù không phải chính vụ tương nhưng đến thị trấn Nam Đàn thời điểm này, thấy sân nhà nào cũng đầy ắp những chum tương. Bà Nguyễn Thị Tỵ (63 tuổi), là một người làm tương lâu năm, có tay nghề cho biết: Nghề sản xuất tương đã có từ rất lâu đời và được truyền từ đời này qua đời khác, nhưng đến năm 2010, thị trấn mới được công nhận làng nghề truyền thống. Dù tuổi cao nhưng hằng ngày, bà Tỵ vẫn gắn bó với công việc làm tương, bởi bà muốn lưu giữ lại cái hồn của nghề cha ông truyền lại.

Trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ mới cho ra được một mẻ tương ngon và đậm đà hương vị của vùng quê Nam Đàn. Món ăn dân giã mang hương vị của đồng quê xứ Nghệ trở thành một trong những đặc trưng của nền văn hóa ẩm thực Việt Nam. Hiện nay, trên địa bàn có 30 hộ tham gia sản xuất tương chuyên nghiệp, trung bình mỗi năm đạt mấy vạn lít tương. Tương Nam Đàn đã có mặt ở thị trường trong Nam, ngoài Bắc và xuất khẩu ra nước ngoài. 

Thời điểm này, bà con ở xã Nghĩa Hưng, huyện Nghĩa Đàn đang chuẩn bị thu hoạch mía để sản xuất, cho ra lò những mẻ mật đầu tiên. Được công nhận làng nghề từ đầu tháng 3/2014, làng nghề ép mía - chế biến mật (làng Găng, xã Nghĩa Hưng, huyện Nghĩa Đàn) hiện nay có đến 95% hộ dân theo nghề, với tổng diện tích trồng mía là 179,1 ha. Dù mới được công nhận làng nghề truyền thống nhưng nghề sản xuất, chế biến mật mía đã có từ lâu đời. Để có một mẻ mật mía thơm ngon, đòi hỏi người thợ phải khéo léo trong từng khâu chế biến. 

Mai một theo thời gian

Một trong những khó khăn mà các làng nghề truyền thống đang phải đối mặt đó là thiếu vốn, đã ảnh hưởng đến chất lượng cũng như mẫu mã của sản phẩm làng nghề. Nền kinh tế khó khăn cũng ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ của các sản phẩm làng nghề, trong khi đó sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm công nghiệp khiến sản phẩm truyền thống mất thị trường. Điều này càng làm cho đầu ra sản phẩm nghề gặp khó. 

Mặc dù tương Nam Đàn đã là một thương hiệu được nhiều người biết đến, nhưng vấn đề đầu ra cho sản phẩm đang ngày càng bị thu hẹp. Có thời điểm tương được xuất khẩu ra nước ngoài, nhưng cũng tùy vào từng đợt. Với các hộ làm tương có tiếng chủ yếu nhập cho các nhà hàng, còn lại bán cho các mối quen. Người dân Nam Đàn vẫn có thói quen bán tương trên vỉa hè, điều này ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như thương hiệu của tương truyền thống.

Được biết, năm 2012, tương của Hợp tác xã Sa Nam được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực miền Bắc, tuy nhiên, tương Nam Đàn vẫn chưa có mối liên kết tiêu thụ nào để thu gom sản phẩm cũng như quảng bá thương hiệu. Đó là chưa kể nhiều cơ sở sản xuất khác đã giả mạo nhãn mác tương Nam Đàn, làm ảnh hưởng đến uy tín của làng nghề. 

Đối với người dân xã Nghĩa Hưng, huyện Nghĩa Đàn, được công nhận làng nghề đã khiến họ hy vọng sẽ có doanh nghiệp đứng ra bao tiêu sản phẩm. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có doanh nghiệp nào đứng ra thu mua, quảng bá thương hiệu. Người dân vẫn sản xuất và tiêu thụ theo cơ chế thị trường, sản xuất theo đơn hàng và gửi cho các cửa hàng, đại lý ở thành phố bán. Thiếu đầu ra bền vững là thực trạng chung ở hầu hết các làng nghề. 

Trong khi đó, việc phát triển nguồn nhân lực tại các làng nghề chưa được sự quan tâm đúng mức của chính quyền địa phương. Nguồn nhân lực tay nghề cao thiếu hụt đã ảnh hưởng đến chất lượng các sản phẩm. Giới trẻ càng ngày càng không mặn mà với việc gìn giữ, phát triển nghề nên các làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một.

Huyền Thương

“Chương trình Bảo tồn và phát triển làng nghề”

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 2636/QĐ-BNN-CB
Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2011

QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT CHƯƠNG TRÌNH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
BỘ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Căn cứ Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Nghị định số 75/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi Điều 3 Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn;
Căn cứ Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
Căn cứ Quyết định số 2561/QĐ-BNN-KTHT ngày 23 tháng 9 năm 2010 giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
Xét đề nghị của Cục trưởng Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thuỷ sản và nghề muối,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Chương trình Bảo tồn và phát triển làng nghề với những nội dung chủ yếu sau đây:
I. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm
- Bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở phát triển hài hòa giữa sản xuất hàng hóa với bảo vệ môi trường và gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống theo hướng bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn.
- Bảo tồn và phát triển làng nghề phải kết hợp phát triển hài hòa các cơ sở ngành nghề quy mô vừa và nhỏ, đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề, chú trọng phát triển các hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn ở làng nghề.
- Bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở phát huy sự tham gia của cộng đồng gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, từng bước hình thành các thị trấn, thị tứ và phát triển nông thôn mới.
- Bảo tồn và phát triển làng nghề phải gắn với thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu, phù hợp phát triển kinh tế xã hội và phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa phương, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu của Chương trình Bảo tồn và Phát triển làng nghề là phát triển làng nghề, ngành nghề, dịch vụ, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
a) Phấn đấu đến năm 2015 đạt:
- Thu nhập tăng từ các hoạt động phi nông nghiệp từ 2 - 4 lần so với sản xuất thuần nông;
- Tỷ lệ xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hàng năm tăng 15-17%, đạt kim ngạch 1,5 tỷ USD;
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất thủ công mỹ nghệ, kim khí…;
- Bảo tồn 30 - 40 làng nghề truyền thống theo hướng vào bảo tồn các làng nghề truyền thống, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc…
- Phát triển 50 - 70 làng nghề mới và làng nghề gắn với du lịch; chú trọng phát triển nghề truyền thống, làng nghề mới ở những nơi bị thu hồi đất nông nghiệp, khu vực người dân tộc thiểu số…
b) Phấn đấu đến năm 2020 đạt:
- Tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo nghề: 80%;
- Tỷ lệ xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hàng năm tăng 17-20%, đạt kim ngạch 2,0-2,5 tỷ USD;
- Không còn hộ nghèo tại các làng nghề;
- Cơ bản giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề;
- Bảo tồn 455 làng nghề truyền thống;
- Phát triển 300 làng nghề phát triển mới và làng nghề du lịch.
II. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
1. Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống
a) Khôi phục, bảo tồn các làng nghề truyền thống từ lâu đời đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền
- Đối với những làng nghề đang trong quá trình suy vong và có khả năng mất đi, xác định bảo tồn là chính, coi đó là tài sản văn hóa quốc gia; tiến hành điều tra, xác định và xây dựng dự án để duy trì một vài hộ hoặc nhóm hộ nghề, nghệ nhân hoạt động “trình diễn” nghề nhằm phục vụ yêu cầu du lịch, văn hóa.
- Đối với những làng nghề có khó khăn, phát triển theo hướng sản xuất sản phẩm đơn chiếc (đặc trưng), có giá trị kinh tế và hàm lượng văn hóa cao làm hàng dân dụng, phổ thông, hàng phục vụ du lịch.
- Tăng cường công tác thu thập, bảo tồn và lưu giữ tư liệu về giá trị truyền thống của làng nghề, hỗ trợ xây dựng các phòng và nhà trưng bày, bảo tàng nghề, làng nghề thủ công mỹ nghệ, khu trình diễn nghề truyền thống; xây dựng các trung tâm đào tạo nghề, trung tâm xúc tiến thương mại sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ…
- Chuyển đổi một số ngành nghề, làng nghề khó khăn về thị trường thông qua sự hỗ trợ về vốn đầu tư, đào tạo nghề, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện cho các làng nghề được phục hồi và phát triển.
b) Những làng nghề phát triển mạnh, có sự lan tỏa sang các khu vực lân cận
- Khôi phục sản xuất tại những làng nghề đã và đang bị mai một nhưng trên thị trường có nhu cầu; chú trọng một số nghề truyền thống, làng nghề truyền thống có từ lâu đời, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
- Phát triển mạnh các nghề truyền thống, làng nghề truyền thống, chú trọng phát triển những sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn và giá trị kinh tế cao; khuyến khích sự lan tỏa, cấy nghề truyền thống ra vùng xung quanh và đẩy mạnh hỗ trợ phát triển sản phẩm mới.
- Quan tâm phát triển các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chú trọng sản xuất các mặt hàng có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.
- Sử dụng công nghệ truyền thống kết hợp áp dụng cơ khí hóa một số công đoạn sản xuất thủ công mà không ảnh hưởng đến giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ và giá trị truyền thống của sản phẩm.
c) Những làng nghề phát triển cầm chừng, không ổn định
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các nghệ nhân, thợ tay nghề cao và các cơ sở sản xuất làm một số loại sản phẩm cao cấp, đáp ứng thị hiếu khách hàng.
- Chú trọng bảo tồn một số công nghệ cổ truyền tinh xảo, độc đáo và có hướng đổi mới, phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại phù hợp với sản xuất tại các làng nghề.
d) Bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống của các dân tộc
- Nghiên cứu, ban hành hệ thống chính sách đồng bộ về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở vùng đồng bào dân tộc.
- Tiến hành điều tra, khảo sát các nghề thủ công truyền thống và xây dựng, thực hiện Dự án bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc.
- Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ, cải tiến mẫu mã, kiểm tra chất lượng sản phẩm; tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước thông qua các hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm, cung cấp thông tin thị trường.
- Xây dựng các làng thủ công mỹ nghệ truyền thống nhằm lưu giữ, trưng bày, trình diễn, nghiên cứu các nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc.
2. Phát triển làng nghề gắn với du lịch
a) Hướng phát triển làng nghề gắn với du lịch
- Thực hiện quy hoạch và xây dựng các tuyến, điểm du lịch gắn với làng nghề trong cả nước và ở từng địa phương; đánh giá tình hình khai thác, tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, hiện trạng quy hoạch, kiến trúc và hạ tầng cơ sở.
- Xây dựng kế hoạch đầu tư, nâng cấp và phát triển làng nghề gắn với các tuyến, điểm du lịch.
- Hỗ trợ các làng nghề khôi phục, phát triển các nghề truyền thống, hoạt động văn hóa dân gian, xây dựng môi trường du lịch văn hóa, cải thiện cơ sở hạ tầng kết hợp bảo vệ môi trường du lịch sinh thái.
b) Phát triển làng nghề gắn với các tuyến du lịch
- Tập trung quảng bá về các làng nghề, sản phẩm làng nghề, cơ sở, hộ sản xuất và các nghệ nhân của làng nghề nằm trong các tuyến du lịch.
- Tổ chức các tuyến du lịch làng nghề kết hợp với các tuyến du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch về cội nguồn, du lịch nông nghiệp và các tuyến du lịch khác.
- Xây dựng mới và nâng cấp các tuyến du lịch làng nghề đã có.
c) Phát triển làng nghề gắn với các điểm du lịch
- Ưu tiên phát triển hạ tầng, bảo vệ môi trường, xúc tiến thương mại, chính sách đối với nghệ nhân, vay vốn ưu đãi, chính sách khuyến khích nghiên cứu, sáng tạo mẫu sản phẩm… tại các làng nghề gắn với điểm du lịch.
- Hỗ trợ hoạt động tuyên truyền, phổ biến, vận động người dân trong làng thực hiện quy định về vệ sinh môi trường; xây dựng công trình thu gom và xử lý chất thải; ứng dụng công nghệ mới ít gây ô nhiễm môi trường.
- Phát triển các cửa hàng bán đồ lưu niệm tại làng nghề; tổ chức các khu vực tập trung các cửa hàng bán sản phẩm của làng nghề.
- Xây dựng các xưởng, khu sản xuất đủ điều kiện làm điểm du lịch để tổ chức tham quan cho du khách trong và ngoài nước.
- Đầu tư phát triển các điểm làng nghề gắn với du lịch.
3. Phát triển làng nghề mới, phấn đấu thực hiện mỗi làng một nghề
a) Đối với những làng đã có nghề
- Khôi phục, bảo tồn, lưu giữ nét văn hóa truyền thống trong sản phẩm, bí quyết nghề, đồng thời thiết kế những sản phẩm mới phù hợp với thị trường, nâng cao khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Xây dựng kế hoạch, dự án để thúc đẩy phát triển nhân rộng ra nhiều hộ trong làng; tăng cường liên kết với các doanh nghiệp để cải tiến mẫu mã, cung cấp vốn và thông tin thị trường; đào tạo nâng cao năng lực quản lý kinh doanh của các chủ cơ sở sản xuất…
b) Đối với các làng chưa có nghề phi nông nghiệp
- Thúc đẩy phát triển ngành nghề phi nông nghiệp với hình thức du nhập phát triển nghề thông qua việc học tập, phổ biến, lan tỏa từ các làng nghề truyền thống, làng nghề đã có sản phẩm trên thị trường.
- Xây dựng các dự án khôi phục nghề cũ (nếu có), chú trọng phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nông thôn.
- Những làng nghề mới cần hướng tập trung vào phát triển các ngành nghề chế biến nông lâm thủy sản, công nghệ bảo quản sau thu hoạch và sản xuất sản phẩm cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp; ưu tiên chế biến các sản phẩm sạch.
c) Phát triển, kết hợp các loại hình kinh tế và tổ chức sản xuất, kinh doanh
- Phát triển mối liên kết doanh nghiệp xuất khẩu với gia công bán thành phẩm ở các làng nghề.
- Khuyến khích mở rộng quy mô, tập trung vốn, tạo mặt bằng sản xuất thuận lợi trong các khu/cụm công nghiệp ngành nghề tại địa phương.
- Thu hút liên doanh, liên kết, góp vốn, xúc tiến hình thành các công ty, xí nghiệp, hoặc các tổ chức kinh tế cổ phần.
d) Định hướng phát triển một số làng nghề mới
- Phát triển làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
- Phát triển làng nghề bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản, gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh
- Phát triển nghề cơ khí nhỏ ở nông thôn
- Phát triển dịch vụ ở nông thôn
III. NGUỒN VỐN
1. Nhà nước tạo cơ sở pháp lý khuyến khích sự tham gia của người dân, các thành phần kinh tế, các tổ chức trong và ngoài nước, chú trọng thực hiện lồng ghép với các Chương trình, dự án khác để đầu tư bảo tồn và phát triển làng nghề. Nguồn vốn đầu tư: Vốn ngân sách nhà nước hàng năm (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, vốn ODA), đóng góp của người dân và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Trước mắt, cần sắp xếp thứ tự ưu tiên, lựa chọn một số dự án có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn và phát triển các làng nghề làm thí điểm để tổng kết, rút kinh nghiệm cho việc xây dựng và triển khai Chương trình trên toàn quốc.
2. Căn cứ vào kế hoạch hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí thực hiện Chương trình Bảo tồn và phát triển làng nghề để bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các quy định hiện hành.
3. Ngân sách địa phương, hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề. Đối với các tỉnh khó khăn về nguồn thu ngân sách, ngân sách trung ương hỗ trợ một phần trong dự toán hàng năm. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện cụ thể của từng địa phương có cơ chế hỗ trợ các dự án bảo tồn, phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn trên địa bàn.
4. Nguồn vốn thực hiện Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất và ngành nghề nông thôn, Dự án Bảo tồn và Phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm thực hiện theo hướng dẫn của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới và các văn bản hướng dẫn thi hành.
IV. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Về quy hoạch.
a) Khẩn trương xây dựng quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn theo hướng đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, phát triển các làng nghề, cụm công nghiệp/cơ sở ngành nghề nông thôn, hình thành các thị trấn, thị tứ mới ở nông thôn.
b) Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề được xây dựng, triển khai thực hiện phải phù hợp với quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước, trong đó chú trọng bảo tồn và phát triển làng nghề, vùng nghề gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu và bảo vệ môi trường.
c) Đối với quy hoạch vùng nguyên liệu cho các nghề thủ công, bao gồm vùng nguyên liệu quốc gia và vùng nguyên liệu địa phương; triển khai xây dựng quy hoạch và có kế hoạch đầu tư, gây dựng các loại giống cây nguyên liệu có chất lượng cao cung cấp cho các làng nghề.
d) Thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội ở Trung ương và địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được hưởng lợi cùng tham gia vào quá trình lập và thực hiện các chương trình, dự án theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
2. Về chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề và đất đai
a) Ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề; ưu tiên các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, các tuyến điểm phát triển làng nghề gắn với du lịch.
b) Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn.
c) Áp dụng chính sách ưu tiên đối với các dự án bảo tồn và phát triển làng nghề khi di dời ra khỏi khu dân cư đến địa điểm quy hoạch.
d) Thực hiện các chính sách ưu đãi trong thuế đất, chuyển nhượng, thế chấp, quyền về sử dụng đất; giá thuê đất ở mức thấp nhất và miễn tiền thuê đất cho các cơ sở ngành nghề nông thôn, đặc biệt là nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc và các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống cần phải bảo tồn.
3. Về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
a) Khuyến khích Nghệ nhân trực tiếp mở lớp truyền nghề; các lớp đào tạo thợ lành nghề, giáo viên dạy nghề và người thiết kế mẫu trong các làng nghề và hoạt động tư vấn phát triển sản phẩm.
b) Lao động nông thôn trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn được áp dụng chính sách đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
c) Phát triển nguồn nhân lực thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý cấp xã, làng, bản và đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn, tổ chức giao lưu học hỏi kinh nghiệm trong nước và quốc tế. Mỗi địa phương có chế độ ưu đãi để thu hút các nghệ nhân, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi tham gia vào phát triển ngành nghề, làng nghề.
d) Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nghệ nhân, chuyên gia nước ngoài truyền dạy nghề, kinh nghiệm, bí quyết sản xuất các nghề thủ công mỹ nghệ.
e) Các cơ sở sản xuất, kinh doanh và hộ gia đình tham gia vào sản xuất, kinh doanh lĩnh vực ngành nghề nông thôn được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm.
g) Xây dựng chính sách phong tặng danh hiệu Nghệ nhân, làng nghề truyền thống, nghề truyền thống; hàng năm tổ chức trao giải “Sản phẩm tiêu biểu” cho các sản phẩm mới kết hợp với cuộc thi sản phẩm thủ công.
4. Về khoa học, công nghệ và môi trường
a) Xây dựng chương trình quốc gia về khoa học công nghệ cho phát triển ngành nghề nông thôn; xây dựng chính sách khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân nghiên cứu khoa học, nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển làng nghề, đặc biệt là các nghề truyền thống và phát triển nghề mới.
b) Ưu tiên đầu tư cho các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ để phát triển làng nghề mới trong lĩnh vực bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản; khuyến khích và đầu tư hỗ trợ cho các nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm mới trong các làng nghề.
c) Hỗ trợ kinh phí đối với cơ sở ngành nghề nông thôn thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ thiết bị để bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống, làng nghề mới và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề.
d) Có chính sách khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân nghiên cứu, đổi mới công nghệ phục vụ cho bảo tồn và phát triển ngành nghề, làng nghề; ban hành chính sách tạo điều kiện thuận lợi để các nghệ nhân trong làng nghề tham gia nghiên cứu khoa học, kể cả làm chủ các đề tài, dự án; khuyến khích, đầu tư 100% cho các đề tài khôi phục kỹ thuật truyền thống, hiện đại hóa công nghệ truyền thống và mở mang nghề mới từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước, các Bộ ngành và địa phương.
đ) Về quản lý chất lượng sản phẩm, xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn quản lý chất lượng sản phẩm làng nghề, đặc biệt là sản phẩm chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ… có ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và môi trường.
Nguồn kinh phí bố trí hàng năm từ Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi giai đoạn 2011 – 2015 tại Quyết định số 1831/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ; các chương trình, dự án và nguồn vốn sự nghiệp khoa học của các Bộ, ngành có liên quan. Mức kinh phí hỗ trợ cụ thể theo dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt hàng năm.
5. Về chính sách đầu tư, tín dụng và thuế
a) Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, đào tạo, xúc tiến thương mại, khoa học công nghệ, xử lý ô nhiễm môi trường… Xây dựng hệ thống tài chính có thể tiếp cận dễ dàng với ngân hàng; tăng cường liên kết với các tổ chức kinh tế, xã hội và các nhà tài trợ đầu tư để bảo tồn và phát triển làng nghề.
b) Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển làng nghề, đặc biệt là các dự án phát triển làng nghề gắn với du lịch và phát triển làng nghề mới; Các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở làng nghề được vay vốn tín dụng theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ.
c) Các dự án đầu tư trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển làng nghề được hưởng các ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư theo quy định tại Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và các văn bản hướng dẫn thi hành.
d) Được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên, thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế có liên quan khác theo quy định để đầu tư sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực bảo tồn, phát triển làng nghề ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc và khôi phục, bảo tồn các nghề, làng nghề truyền thống.
e) Hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xử lý môi trường cho các làng nghề truyền thống, các điểm phát triển làng nghề gắn với du lịch, các làng nghề truyền thống thuộc khu vực khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa theo quy định hiện hành.
6. Về xúc tiến thương mại
a) Hỗ trợ điều tra, khảo sát, nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ và các cơ sở ngành nghề nông thôn.
b) Các cơ sở ngành nghề nông thôn được nhà nước hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại theo Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia và các quy định có liên quan khác; xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại ngành nghề nông thôn từ nguồn kinh phí xúc tiến thương mại hàng năm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
c) Các cơ sở ngành nghề nông thôn được hỗ trợ kinh phí thuê gian hàng, chi phí vận chuyển và các chi phí có liên quan khác khi tham gia hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước theo quy định hiện hành.
d) Các cơ sở ngành nghề nông thôn, doanh nghiệp sản xuất ngành nghề nông thôn nếu có dự án kinh doanh hiệu quả sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu theo quy định hiện hành.
e) Đẩy mạnh áp dụng thương mại điện tử, hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn, doanh nghiệp, làng nghề xây dựng hệ thống thông tin nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm làng nghề; xây dựng thương hiệu, sở hữu trí tuệ, trước mắt tăng nguồn kinh phí hỗ trợ để thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng Internet nhằm quảng bá thương hiệu và các sản phẩm làng nghề.
f) Đầu tư xây dựng các chợ, cửa hàng, trung tâm ở địa phương có làng nghề, các trạm nghỉ ven đường quốc lộ hoặc ở các điểm du lịch, sân bay… để quảng bá giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm.
g) Khuyến khích thành lập các trung tâm nghiên cứu, thiết kế mẫu mã, sản phẩm mới phục vụ cho các cơ sở sản xuất theo định hướng đáp ứng nhu cầu nhập khẩu sản phẩm ngành nghề nông thôn của thị trường trong và ngoài nước.
h) Tổ chức thực hiện việc cung cấp thông tin thường xuyên về thị trường, những quy định về chất lượng, mẫu mã sản phẩm, thị hiếu tiêu dùng, các rào cản kỹ thuật để cơ sở ngành nghề nông thôn có cơ sở định hướng sản xuất, xuất khẩu phù hợp.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ trưởng Cao Đức Phát (để b/c);
- Văn phòng Chính phủ;
- Các Bộ, ngành có liên quan (để p/h);
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Các Vụ, Cục, Trung tâm có liên quan thuộc Bộ (để t/h);
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (để t/h);
- Chi cục Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố (để t/h);
- Lưu: VT, CB.
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Hồ Xuân Hùng




 

Kết mối với chúng tôi

Người xem

Liên hệ

Name

Email *

Message *

Video lưu trữ

Đăng ký cập nhật bài mới